Tìm hiểu về giấy tờ tùy thân người nước ngoài phải xuất trình khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam
Khi đăng ký kết hôn, cả 02 bên nam và nữ đều phải xuất trình giấy tờ tùy thân (hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp) để chứng minh về nhân thân; thông tin của giấy tờ tùy thân sẽ được ghi trong Giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, đối với người nước ngoài, phạm vi giấy tờ tùy thân mà họ xuất trình có giống như đối với công dân Việt Nam hay không cần phải được UBND cấp huyện lưu ý kỹ trong giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn
Theo quy định thì trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú” [1]. Như vậy, khi đăng ký kết hôn, giấy tờ tùy thân mà người nước ngoài phải xuất trình là hộ chiếu; nếu không có hộ chiếu thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế/thẻ cư trú. Ngoài 03 loại giấy tờ này, không quy định người đó được xuất trình các loại giấy tờ khác. Vậy:
1. Hộ chiếu/giấy tờ đi lại quốc tế/thẻ cư trú là gì?
Theo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì:
- Hộ chiếu (passport) là giấy tờ mà Nhà nước cấp cho công dân của nước mình sử dụng để xuất cảnh, nhập cảnh, chứng minh quốc tịch và nhân thân.
- Giấy tờ đi lại quốc tế là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận.
- Thẻ cư trú (thẻ thường trú/thẻ tạm trú) là loại giấy tờ do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao cấp cho người nước ngoài được phép cư trú không thời hạn ở Việt Nam.
2. Tại sao các giấy tờ khác của người nước ngoài không được coi là giấy tờ tùy thân sử dụng trong đăng ký kết hôn tại Việt Nam?
Thực tế, người nước ngoài còn có các giấy tờ khác chứng minh về nhân thân như thị thực/chứng minh nhân dân/căn cước… Tuy nhiên, các giấy tờ này không được coi là giấy tờ tùy thân khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam, vì:
- Thị thực (visa) là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cho phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.
- Chứng minh nhân dân/căn cước công dân/căn cước…là loại giấy tờ tùy thân do cơ quan thẩm quyền của mỗi nước cấp cho công dân của nước đó, chỉ sử dụng trong phạm vi của nước đó, không phải là loại giấy tờ được sử dụng khi đi lại quốc tế.
Do đó, công dân nước ngoài không được sử dụng những giấy tờ này là giấy tờ tùy thân khi đăng ký kết hôn tại Việt Nam.
3. Nếu đã xác định nhầm giấy tờ tùy thân của người nước ngoài trong đăng ký kết hôn thì khắc phục như thế nào?
Trong thực tế, vẫn có trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp huyện) chưa xác định rõ, vẫn còn nhầm lẫn, ghi nhận thông tin thị thực/chứng minh nhân dân/căn cước công dân… của người nước ngoài trong mục Giấy tờ tùy thân của Giấy đăng ký kết hôn dẫn đến cặp vợ chồng đó không thể xuất cảnh vì Giấy đăng ký kết hôn ghi thông tin không đúng quy định pháp luật.
Theo quy định pháp luật, đây là sai sót do lỗi của công chức làm công tác đăng ký hộ tịch do xác định không đúng giấy tờ tùy thân của công dân nước ngoài khi đăng ký hộ tịch. Do đó, cơ quan đăng ký hộ tịch cần thực hiện việc cải chính hộ tịch để khắc phục tình trạng này./.
Hoàng Nguyên
[1] Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (về hồ sơ đăng ký kết hôn)