Tìm gia đình thay thế cho trẻ em - những điểm mới trong quy định pháp luật
Trong cuộc sống, có những trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa. Để những trẻ em này được sống trong vòng tay của gia đình, người thân, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển, trưởng thành bình thường, pháp luật về nuôi con nuôi đã quy định việc tìm gia đình thay thế cho những trẻ em này.
Trước đây, việc tìm gia đình thay thế cho trẻ được thực hiện theo quy định tại Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019). Tuy nhiên, kể từ ngày 08/01/2025, nhiều nội dung đã được sửa đổi mới theo quy định tại Nghị định số 06/2025/NĐ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau:
1. Đối với trẻ em đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định pháp luật
Theo quy định trước đây thì:
- Nếu là trẻ em bị bỏ rơi: Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi phải bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho UBND hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi (nếu trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo); UBND cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em; Chủ tịch UBND hoặc Trưởng Công an cấp xã lập biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi, niêm yết tìm cha mẹ đẻ của trẻ theo quy định.
Hết thời hạn niêm yết mà không tìm được cha mẹ đẻ của trẻ, nếu có người nhận trẻ em làm con nuôi thì xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; nếu không có thì lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng.
- Đối với trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng: Người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ; UBND cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ và thông báo, niêm yết tại trụ sở UBND trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ làm con nuôi. Nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì xem xét, giải quyết; hết thời hạn thông báo, niêm yết, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng.
Như vậy, khi chuyển trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng, UBND cấp xã không còn trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ nữa; trách nhiệm này thuộc về cơ sở nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 06/2025/NĐ-CP về rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi đã bổ sung quy định mới. Theo đó, tuy trẻ đã chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng nhưng định kỳ 06 tháng, UBND cấp xã vẫn phải rà soát, đánh giá việc trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, trẻ em không nơi nương tựa cần được nhận làm con nuôi:
- Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi: UBND cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.
- Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi: UBND cấp xã phải có văn bản kèm theo hồ sơ trẻ em gửi Sở Tư pháp để thông tin tìm người nhận trẻ em làm con nuôi, đồng thời báo cáo UBND cấp huyện để biết.
Quy định này đã góp phần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của UBND cấp xã đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, không “khoán trắng” cho cơ sở nuôi dưỡng như trước đây.
2. Đối với trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng
Trước đây, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Cơ sở nuôi dưỡng giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại UBND cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng. Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ trẻ em gửi văn bản xin ý kiến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến gửi về Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định.
Tuy nhiên, theo Nghị định số 06/2025/NĐ-CP thì hiện các cơ sở nuôi dưỡng thực hiện theo quy trình sau:
- Rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi và lập hồ sơ trẻ em.
- Xin ý kiến của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (đối với cơ sở thuộc trách nhiệm quản lý của tỉnh) hoặc UBND cấp huyện (đối với cơ sở thuộc trách nhiệm quản lý cấp huyện). Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội/UBND cấp huyện có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi theo quy định. Khi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội được sắp xếp lại, cơ sở nuôi dưỡng xin ý kiến của đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo trợ xã hội, trẻ em thay cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
Một điều đặc biệt cần lưu ý là cơ sở nuôi dưỡng không được giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi để thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại UBND cấp xã như trước đây. Do đó, các trường hợp nhận hồ sơ trẻ em từ cơ sở nuôi dưỡng sẽ không được giải quyết yêu cầu đăng ký nuôi con nuôi./.
* Theo khoản 6, khoản 7 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi; Điều 5 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em thì:
- Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không xác định được cha mẹ đẻ.
- Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc 01 trong 02 người đã chết và người kia không xác định được.
- Trẻ em không nơi nương tựa là trẻ em thuộc 01 trong các trường hợp sau:
(01) Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;
(02) Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng;
(03) Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(04) Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;
(05) Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
(06) Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(07) Trẻ em có cả cha và mẹ không còn khả năng chăm sóc trẻ em;
(08) Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
(09) Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(10) Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(11) Trẻ em sống trong gia đình có cả cha và mẹ trong độ tuổi trẻ em;
(12) Trẻ em có cả cha và mẹ bị hạn chế quyền làm cha mẹ hoặc tạm thời cách ly khỏi cha hoặc mẹ theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi thì cơ sở nuôi dưỡng là cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở khác được thành lập theo pháp luật Việt Nam để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
.Thúy Hà