Thứ tư, Ngày 20 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 03/10/2025

Thực hiện Công ước chống tra tấn ở địa phương – từ cam kết quốc tế đến yêu cầu hoàn thiện quản trị quyền con người

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người ngày càng trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng quản trị nhà nước. Việc tham gia và thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người không chỉ thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi pháp luật và xây dựng văn hóa pháp quyền trong toàn xã hội.

Trên tinh thần đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tổng kết thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân về nội dung Công ước chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn” nhằm đánh giá toàn diện quá trình triển khai, kết quả đạt được, cũng như những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện Công ước chống tra tấn ở cấp địa phương 

1. Kết quả thực hiện Đề án – nền tảng quan trọng cho việc bảo đảm quyền con người

Qua triển khai Đề án, có thể nhận thấy công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh Đắk Lắk được thực hiện kịp thời, đồng bộ và có sự kế thừa qua nhiều năm. Việc ban hành các kế hoạch triển khai ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án, đồng thời lồng ghép nhiệm vụ tuyên truyền Công ước chống tra tấn vào các kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật hằng năm cho thấy sự chủ động và linh hoạt trong tổ chức thực hiện 

Đáng chú ý, Đề án không chỉ dừng lại ở tuyên truyền nội dung Công ước ở cấp độ nhận thức mà còn gắn chặt với các hoạt động thực thi pháp luật, nhất là trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Việc tập trung tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đã góp phần nâng cao ý thức nghề nghiệp, tăng cường trách nhiệm công vụ và phòng ngừa các hành vi bức cung, nhục hình, tra tấn. Thực tế cho thấy, trong kỳ báo cáo, không ghi nhận trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam hoặc phạm nhân bị bức cung, nhục hình, hành hung trong thời gian giam giữ – đây là chỉ dấu quan trọng phản ánh hiệu quả bước đầu của việc thực hiện Công ước chống tra tấn tại địa phương 

Bên cạnh đó, các hình thức tuyên truyền đa dạng như hội nghị phổ biến pháp luật, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, cũng như lồng ghép nội dung phòng, chống tra tấn thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và trợ giúp pháp lý đã góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận của Đề án đến đông đảo cán bộ và Nhân dân. Qua đó, nhận thức xã hội về quyền con người, về giới hạn quyền lực nhà nước trong hoạt động cưỡng chế hình sự từng bước được nâng lên, tạo nền tảng cho việc xây dựng sự đồng thuận xã hội trong phòng, chống tra tấn 

2. Những hạn chế đặt ra – thách thức trong thực hiện cam kết quốc tế ở địa phương

Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân về nội dung Công ước chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn còn mang tính hình thức, chưa được tổ chức thường xuyên, chưa trở thành nội dung chuyên đề độc lập mà chủ yếu lồng ghép trong các hoạt động tuyên truyền pháp luật khác. Điều này phần nào làm giảm chiều sâu và tính chuyên biệt của công tác tuyên truyền về phòng, chống tra tấn 

Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế; việc tiếp cận thông tin pháp luật của người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn gặp nhiều khó khăn. Những hạn chế này cho thấy việc thực hiện Công ước chống tra tấn không chỉ phụ thuộc vào ý chí chính trị mà còn chịu tác động mạnh mẽ bởi điều kiện nguồn lực, năng lực tổ chức thực hiện và trình độ tiếp cận pháp luật của xã hội.

3. Giải pháp trong thời gian tới – từ tuyên truyền sang quản trị quyền con người

Từ thực tiễn triển khai Đề án tại Đắk Lắk, có thể thấy rằng giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận “tuyên truyền – phổ biến” sang cách tiếp cận toàn diện hơn là “quản trị quyền con người”, trong đó phòng, chống tra tấn được đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, cải cách hành chính và chuyển đổi số.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý và tổ chức thực hiện Công ước chống tra tấn ở địa phương. Việc rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự theo hướng tiệm cận đầy đủ các nguyên tắc của Công ước là yêu cầu xuyên suốt. Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với đội ngũ cán bộ thực thi công vụ, nhất là những người trực tiếp làm việc trong môi trường có nguy cơ cao phát sinh hành vi xâm phạm quyền con người 

Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức tuyên truyền Công ước chống tra tấn. Thay vì chỉ truyền tải quy định pháp luật, công tác tuyên truyền cần tập trung làm rõ các tình huống thực tiễn, các hệ quả pháp lý và đạo đức của hành vi tra tấn; qua đó hình thành nhận thức sâu sắc, bền vững trong đội ngũ cán bộ và Nhân dân. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng tài liệu số, video, infographic, tình huống mô phỏng, cũng như khai thác hiệu quả các nền tảng mạng xã hội sẽ giúp nâng cao tính hấp dẫn, dễ tiếp cận của thông tin pháp luật.

Thứ ba, cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho công tác thực hiện Công ước chống tra tấn. Như kiến nghị tại Báo cáo số 0130/BC-UBND, việc bố trí nguồn kinh phí riêng cho công tác tuyên truyền và đào tạo chuyên sâu về phòng, chống tra tấn là hết sức cần thiết. Đây không chỉ là đầu tư cho hoạt động tuyên truyền đơn thuần, mà là đầu tư cho chất lượng quản trị nhà nước, cho uy tín và hình ảnh của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người 

Cuối cùng, cần phát huy vai trò của toàn xã hội trong phòng, chống tra tấn. Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ hòa giải ở cơ sở, già làng, người có uy tín trong cộng đồng sẽ góp phần lan tỏa mạnh mẽ thông điệp tôn trọng nhân phẩm con người, đồng thời tạo cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động thực thi công vụ. Khi người dân không chỉ là đối tượng được tuyên truyền mà còn trở thành chủ thể giám sát, đồng hành cùng chính quyền, việc thực hiện Công ước chống tra tấn mới thực sự đi vào chiều sâu và bền vững.

Thực tiễn triển khai Đề án tuyên truyền Công ước chống tra tấn tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy, việc thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người hoàn toàn có thể được cụ thể hóa hiệu quả ở cấp địa phương nếu có quyết tâm chính trị, cơ chế tổ chức phù hợp và sự đồng thuận xã hội. Trong thời gian tới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức tuyên truyền và nâng cao năng lực thực thi pháp luật sẽ là chìa khóa để phòng, chống tra tấn không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà trở thành giá trị cốt lõi trong hoạt động quản trị nhà nước và đời sống xã hội, góp phần xây dựng một nền tư pháp nhân đạo, công bằng và thượng tôn pháp luật./.

Thu Hà

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready