QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Đây là một nguyên tắc cơ bản, đảm bảo việc thi hành nghiêm chỉnh pháp luật đối với mọi công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Theo quy định tại Điều 55 Luật TTHC năm 2015, đương sự có 25 quyền và nghĩa vụ chung, trong đó có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính
Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là có căn cứ và hợp pháp được thực hiện trong quá trình Toà án giải quyết vụ án hành chính, được Luật TTHC xác định vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự. Trong từng giai đoạn tố tụng, mức độ và điều kiện thực hiện việc cung cấp tài liệu, chứng cứ là khác nhau.
Thứ nhất, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, đương sự có toàn quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ trong trường hợp này được quy định cụ thể tại Điều 83 Luật TTHC. Về nguyên tắc, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, hợp pháp, vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự. Nếu đương sự chưa nộp hoặc nộp không đầy đủ, thì Tòa án phải giải thích và yêu cầu đương sự nộp bổ sung chứng cứ. Nếu chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ quản lý thì đương sự phải áp dụng các biện pháp để thu thập chứng cứ giao nộp cho Tòa án. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thu thập được thì đương sự có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ. Nếu đương sự không nộp và nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó.
Khi khởi kiện, người khởi kiện vụ án hành chính phải gửi kèm theo đơn khởi kiện là tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nếu người khởi kiện giao nộp chứng cứ trực tiếp cho Tòa án, thì cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của Tòa án được Chánh án phân công nhận đơn, chịu trách nhiệm nhận đơn và chứng cứ kèm theo đó. Cán bộ Tòa án phải ghi việc nhận đơn và chứng cứ kèm theo vào sổ nhận đơn, đồng thời phải tiến hành lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Nếu đương sự gửi đơn khởi kiện, yêu cầu kèm theo chứng cứ qua đường bưu điện, thì cán bộ Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn, phải đối chiếu chứng cứ theo danh mục chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện hoặc có ghi trong đơn khởi kiện để ghi vào sổ nhận chứng cứ đó. Nếu thấy chứng cứ nào đó thiếu hoặc không đầy đủ so với danh mục thì phải thông báo ngay cho đương sự đã giao nộp chứng cứ biết để họ giao nộp bổ sung.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nếu đương sự giao nộp chứng cứ cho Tòa án, thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Thư ký Tòa án hoặc cán bộ Tòa án được Chánh án phân công thực hiện việc nhận chứng cứ do đương sự giao nộp theo phương pháp nêu trên. Trong trường hợp đương sự giao nộp chứng cứ tại phiên tòa, thì Thư ký Tòa án thực hiện việc giao nhận chứng cứ đó. Nếu việc giao nộp chứng cứ của đương sự thực hiện trước khi mở phiên tòa, thì Thư ký Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Nếu việc giao nhận chứng cứ thực hiện trong quá trình xét xử vụ án hành chính, thì Thư ký Tòa án ghi vào biên bản phiên tòa. Việc giao nhận chứng cứ phải được người nhận có thẩm quyền ký tên, người giao ký tên và phải được đóng dấu Tòa án.
Cần lưu ý: Đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp. Trong trường hợp đương sự chưa dịch chứng cứ đó sang tiếng Việt hoặc đã dịch sang tiếng Việt nhưng bản dịch chưa được công chứng, chứng thực hợp pháp, thì Tòa án sẽ không nhận chứng cứ đó. Tòa án phải giải thích cho đương sự những yêu cầu nêu trên.
Như vậy, nhằm khắc phục triệt để những bất cập trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ, tạo cơ sở pháp lý cho Thẩm phán (nói riêng), Tòa án (nói chung) giải quyết kịp thời và chính xác vụ án, Điều 83 Luật TTHC đã quy định cụ thể về giao nộp tài liệu, chứng cứ như sau: (i) Cho phép Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã nộp và Toà án đã thu thập để giải quyết vụ án mà không cần chờ đương sự nộp đủ tài liệu, chứng cứ. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự không chịu giao nộp tài liệu, chứng cứ hoặc cố ý kéo dài việc giao nộp tài liệu, chứng cứ; (ii) Giao quyền cho Thẩm phán được ấn định thời gian đương sự phải giao nộp tài liệu, chứng cứ nhằm tạo sự chủ động cho Thẩm phán khi giải quyết vụ án; (iii) Giao quyền cho Tòa án chủ động (tự mình) việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu chứng cứ khi thấy cần thiết.
Khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật TTHC, đối với tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp khi chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với những tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm. Việc quy định này một mặt tăng cường trách nhiệm của đương sự trong việc giao nộp tài liệu chứng cứ, mặt khác hạn chế sự tuỳ tiện của đương sự do không tích cực giao nộp chứng cứ tài liệu, gây khó khăn cho việc giải quyết của Toà án.
Thứ hai, trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính
Theo quy định tại Điều 227 Luật TTHC, đương sự chỉ được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp sau đây: (i) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng; (ii) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Quy định này tạo cơ sở cho việc giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự mà ở giai đoạn sơ thẩm họ chưa thực hiện được.
Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cũng được thực hiện tương tự như việc giao nộp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Bên cạnh quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm, đương sự còn có quyền bổ sung chứng cứ mới theo quy định tại Điều 219 Luật TTHC. Theo quy định này, trong giai đoạn phúc thẩm, trước khi mở phiên toà hoặc ngay tại phiên toà phúc thẩm thì các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền bổ sung chứng cứ mới. Bên cạnh các tài liệu, chứng cứ được cung cấp theo Điều 227 Luật TTHC, đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính. Việc quy định nói trên nhằm bảo đảm cho vụ án được giải quyết một cách toàn diện, khách quan và triệt để, không bỏ sót bất kỳ chứng cứ nào, tạo mọi thuận lợi cho đương sự cung cấp chứng cứ cho Toà án nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Thứ ba, trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính
Theo khoản 1 Điều 259 Luật TTHC, đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Việc quy định quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ của đương sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án một cách toàn diện và thận trọng, tạo cơ sở khắc phục triệt để thiếu sót của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Quy định này đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra khi giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm mà hồ sơ vụ án còn thiếu chứng cứ hoặc có những tình tiết chưa được làm rõ. Đây là một bổ sung quan trọng nhằm hoàn thiện các thủ tục cần thiết cho việc giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Việc giao nộp chứng cứ trong giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện như sau: Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì đương sự giao nộp chứng cứ tại Phòng tiếp dân của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp cao, cán bộ phòng tiếp dân nhận và Trưởng phòng tiếp dân xác nhận, ký tên, đóng dấu Tòa án.
2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự và đề xuất kiến nghị
Thứ nhất, về thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ
Để cụ thể hoá quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 78, Điều 80 và Điều 83 Luật TTHC, Điều 133 Luật này quy định cụ thể việc giao nộp tài liệu, chứng cứ trong trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ quá thời hạn luật định thì Toà án có tiếp nhận tài liệu, chứng cứ đó hay không? Pháp luật hiện hành không quy định Toà án được quyền từ chối việc tiếp nhận tài liệu, chứng cứ trong trường hợp trên, điều này dẫn đến sự lạm dụng của các đương sự, nhất là người bị kiện làm vụ án hành chính bị kéo dài. Do đó, việc quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ của Luật TTHC là hoàn toàn cần thiết nhằm bảo đảm trách nhiệm của các đương sự, hạn chế kéo dài quá trình tố tụng, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính.
Thứ hai, về giao nộp tài liệu, chứng cứ tại Toà án cấp phúc thẩm
Để đảm bảo tính chặt chẽ và hạn chế việc tuỳ tiện của đương sự trong việc giao nộp tài liệu, chứng cứ, điều luật cũng quy định những điều kiện của việc giao nộp tài liệu, chứng cứ, trong đó có quy định đương sự không được giao nộp được ở giai đoạn sơ thẩm vì lý do chính đáng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là trường hợp đương sự không nêu ra được lý do chính đáng về việc không giao nộp tài liệu, chứng cứ ở giai đoạn sơ thẩm, thì Toà án cấp phúc thẩm có nhận và sử dụng tài liệu, chứng cứ đó hay không? Như vậy, để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, pháp luật về tố tụng hành chính cần bổ sung quy định việc Toà án cấp phúc thẩm có tiếp nhận hay trả lại tài liệu, chứng cứ trong trường hợp đương sự không có lý do chính đáng.
Thứ ba, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được
Luật Tố tụng hành chính quy định các cấp độ khác nhau để đương sự có thể thu thập được tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý. Đương sự có thể tự mình thu thập bằng những biện pháp được pháp luật quy định. Nếu tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ, quản lý, trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.
Trong tố tụng hành chính, tài liệu, chứng cứ liên quan đến tính có căn cứ và hợp pháp của đối tượng khởi kiện chủ yếu thuộc quyền lưu giữ, quản lý của người bị kiện hoặc các cơ quan nhà nước khác. Vì thế, Luật Tố tụng hành chính quy định các cấp độ khác nhau để đương sự có thể thu thập được tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý. Trong đó, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; tTheo khoản 2 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính đó là trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, giữa khoản Điều 84 và Điều 93 Luật Tố tụng hành chính có sự không thống nhất và mâu thuẫn về nội dung này. Trong đó, khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính quy định về những biện pháp đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ. Trong các biện pháp được liệt kê bao gồm biện pháp yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu. Ngoài ra, biện pháp yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản cũng thuộc các biện pháp do đương sự tự mình thu thập chứng cứ. Vì thế, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của các đương sự, khoản Điều 84 Luật Tố tụng hành chính cần bỏ quy định tại điểm e và điểm g vì đây là những biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ không phải do đương sự tự mình thực hiện.
Phương Uyên