Thứ ba, Ngày 19 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 15/03/2024

Quy định người dịch văn bản, giấy tờ bằng tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để đăng ký hộ tịch tại Việt Nam – đôi điều cần suy ngẫm

Theo pháp luật hộ tịch, văn bản, giấy tờ bằng tiếng nước ngoài sử dụng để đăng ký hộ tịch tại Việt Nam phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật, không phân biệt trường hợp nào phải công chứng, trường hợp nào phải chứng thực. Vậy, người dịch theo quy định pháp luật về chứng thực chữ ký người dịch và quy định pháp luật về công chứng bản dịch có khác nhau không (?).

1. Trường hợp chứng thực chữ ký người dịch

Theo pháp luật về chứng thực, tiêu chuẩn, điều kiện của người dịch gồm: 

(01) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật;

(02) Có bằng cử nhân ngoại ngữ trở lên về thứ tiếng nước ngoài cần dịch; hoặc có bằng đại học trở lên đối với chuyên ngành khác được học bằng thứ tiếng nước ngoài cần dịch (phải xuất trình bảng điểm hoặc giấy tờ để chứng minh ngôn ngữ học của mình). 

Ví dụ: Ông A có trình độ thạc sỹ Luật quốc tế tại Trung Quốc, chương trình học bằng tiếng Trung Quốc, nên ông A có đủ tiêu chuẩn để dịch tiếng Trung Quốc. Ông B là cử nhân kinh tế tại Nhật Bản nhưng chương trình học bằng tiếng Anh, nên ông B chỉ đủ tiêu chuẩn để dịch tiếng Anh.

(03) Đối với ngôn ngữ không phổ biến[1] mà người dịch không có bằng cử nhân ngoại ngữ, bằng tốt nghiệp đại học theo quy định trên thì phải thông thạo ngôn ngữ cần dịch (nộp bản cam kết về việc thông thạo ngôn ngữ đó và chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch).

Những người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn trên được đăng ký làm cộng tác viên dịch thuật của một hoặc nhiều Phòng Tư pháp trong cả nước. Phòng Tư pháp kiểm tra đạt đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì lập Danh sách cộng tác viên; báo cáo Sở Tư pháp phê duyệt. Nếu được Sở Tư pháp phê duyệt, Phòng Tư pháp sẽ ký hợp đồng với cộng tác viên dịch thuật và niêm yết Danh sách tại trụ sở, đồng thời định kỳ hàng năm rà soát lại danh sách cộng tác viên dịch thuật.

Ngoài ra, pháp luật còn quy định người không phải là cộng tác viên dịch thuật của Phòng Tư pháp nhưng nếu thông thạo ngoại ngữ có thể tự dịch giấy tờ, văn bản của chính mình và xuất trình bản chính/bản sao bằng đại học ngoại ngữ của thứ tiếng nước ngoài cần dịch (trường hợp dịch ngôn ngữ không phổ biến thì nếu không có bằng đại học ngoại ngữ về thứ tiếng nước ngoài cần dịch hoặc bằng tốt nghiệp đại học trở lên đối với thứ tiếng nước ngoài cần dịch thì phải nộp Bản cam kết về việc thông thạo ngôn ngữ đó và chịu trách nhiệm về nội dung cần dịch) để yêu cầu Phòng Tư pháp chứng thực chữ ký người dịch của mình. Tuy nhiên, người này không được yêu cầu Phòng Tư pháp chứng thực chữ ký người dịch trong trường hợp dịch giấy tờ, văn bản cho người khác (kể cả dịch miễn phí cho người thân thích trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp).

Như vậy, có thể thấy, pháp luật về chứng thực quy định rất rõ ràng, chặt chẽ về người dịch và việc chứng thực chữ ký trong bản dịch của người đó.

2. Trường hợp công chứng bản dịch

Theo pháp luật về công chứng, việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. 

Như vậy, phạm vi người dịch hẹp hơn rất nhiều so với pháp luật về chứng thực. Việc dịch này chỉ được thực hiện bởi duy nhất 01 đối tượng, đó là cộng tác viên phiên dịch của tổ chức hành nghề công chứng. Còn người khác, dù có trình độ, thông thạo ngoại ngữ cũng không thể dịch văn bản, giấy tờ của mình hoặc dịch hộ/dịch thuê cho người khác và đề nghị công chứng bản dịch được.

Để trở thành cộng tác viên phiên dịch của tổ chức hành nghề công chứng, người đó phải đáp ứng các điều kiện sau:

(01) Phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó.

(02) Được tổ chức hành nghề công chứng ký hợp đồng (trong đó xác định rõ trách nhiệm của cộng tác viên đối với nội dung, chất lượng bản dịch, thù lao, quyền và nghĩa vụ của các bên).

Tổ chức hành nghề công chứng phải có văn bản thông báo cho Sở Tư pháp nơi mình đăng ký hoạt động Danh sách cộng tác viên phiên dịch chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng; niêm yết công khai Danh sách cộng tác viên phiên dịch tại trụ sở của tổ chức mình.

Tuy nhiên, so với pháp luật về chứng thực, các quy định pháp luật công chứng liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện của người phiên dịch còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể:

- Thứ nhất, về điều kiện người dịch, pháp luật chỉ quy định “phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ” dẫn đến có nhiều thắc mắc rằng người đã tốt nghiệp đại học ngoại ngữ chuyên ngành tiếng Anh và có chứng chỉ tiếng Trung thì có được là cộng tác viên phiên dịch tiếng Trung được không (?), vì pháp luật không có quy định bắt buộc “phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ chuyên ngành ngôn ngữ phiên dịch”. 

Bên cạnh đó, đối với người không có bằng đại học ngoại ngữ, pháp luật chỉ quy định “phải là người tốt nghiệp đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó”. Quy định này cũng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, chằng hạn như: người tốt nghiệp Đại học chuyên ngành kinh tế nông lâm và có chứng chỉ tiếng Hàn thì có được là cộng tác viên phiên dịch tiếng Hàn hay không (?); hay bắt buộc phải là tốt nghiệp đại học ngành kinh tế nông lâm được đào tạo bằng tiếng Hàn thì mới được là cộng tác viên tiếng Hàn?

Do đó, thiết nghĩ cần xem xét, chỉnh sửa lại các quy định trên cho chặt chẽ, rõ ràng hơn về điều kiện, tiêu chuẩn người dịch.

- Thứ hai, pháp luật chỉ quy định tổ chức hành nghề công chứng sau khi ký hợp đồng với cộng tác viên dịch thuật thì có văn bản thông báo cho Sở Tư pháp nơi mình đăng ký hoạt động Danh sách cộng tác viên phiên dịch, và không quy định nào về việc tiền kiểm đối với danh sách cộng tác viên này. Tuy rằng pháp luật quy định Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện nhưng không loại trừ trường hợp tổ chức công chứng vì chạy theo lợi nhuận, ký hợp đồng với người không đáp ứng yêu cầu, dẫn đến gây hậu quả không mong muốn. 

Vì vậy nên chăng cần có thêm quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của Sở Tư pháp trong việc xem xét người đó có đủ điều kiện, tiêu chuẩn trở thành cộng tác viên phiên dịch của tổ chức hành nghề công chứng để đảm bảo chặt chẽ hơn ngay ở giai đoạn “tiền kiểm”, tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra./.

[1] Ngôn ngữ phổ biến được hiểu là ngôn ngữ được thể hiện trên nhiều giấy tờ, văn bản được sử dụng tại Việt Nam và nhiều người Việt Nam có thể dịch ngôn ngữ này ra tiếng Việt hoặc ngược lại. Ví dụ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Tây Ban Nha. 

Ngôn ngữ không phổ biến là ngôn ngữ ít được thể hiện trên giấy tờ, văn bản sử dụng tại Việt Nam và ít người có thể dịch được ngôn ngữ này ra tiếng Việt hoặc ngược lại. Ví dụ: tiếng Mông Cổ, tiếng Ấn Độ...

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready