Thứ ba, Ngày 19 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 18/10/2024

NHỮNG LƯU Ý VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”. Theo đó, cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết bằng hai cách: (1) Lập di chúc; (2) Để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật (không cần lập di chúc). Trong đó, việc để lại di sản bằng cách lập di chúc đang được nhiều cá nhân quan tâm vì qua di chúc cá nhân có thể thể hiện ý chí của mình nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác bằng di chúc cũng được pháp luật công nhận. Cụ thể:

I.     Trường hợp không chia di sản theo di chúc

1.    Trường hợp di chúc không hợp pháp 

Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, để di chúc hợp pháp cần đáp ứng các điều kiện chung như: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Ngoài ra, việc lập di chúc phải đáp ứng các điều kiện sau: 

-        Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

-        Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

-        Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện chung của di chúc hợp pháp (người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật).

-        Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

2.    Trường hợp di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần 

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau:

-        Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc.

-        Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

-        Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

-        Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

-         Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực

Lưu ý: Trường hợp di chúc vẫn còn hiệu lực một phần thì việc chia di sản vẫn thực hiện theo phần còn hiệu lực đó. 

3.    Trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Tuy nhiên, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản và người không có quyền hưởng di sản, cụ thể: 

-        Người từ chối nhận di sản được quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm: người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác; việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết và việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản (có nghĩa là việc từ chối nhận di sản phải được thực hiện trong thời gian từ thời điểm mở thừa kế đến trước thời điểm phân chia di sản). 

-        Người không có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

4.    Trường hợp không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng hoặc di tặng

-        Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản vào việc thờ cúng, tuy nhiên trong trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng nhưng toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

-        Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.

II.  Thực tiễn xét xử

Trên thực tiễn xét xử của Toà án, không ít trường hợp vì chưa hiểu biết hết các quy định của pháp luật trong việc lập di chúc đã dẫn đến hệ quả phát sinh các tranh chấp (thông thường là giữa các thành viên trong cùng một gia đình). Do đó, việc hiểu biết rõ quy định của pháp luật liên quan đến việc lập di chúc sẽ giúp người lập di chúc chủ động hơn trong việc định đoạt tài sản của mình, đây cũng là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu giảm xung đột gia đình, cũng như làm tăng tình cảm đoàn kết giữa cha mẹ, các con, anh, chị em trong gia đình. Một số vụ án trên thực tiễn có thể kể đến như: 

1.    Bản án số 54/2021/DSPT ngày 07/4/2021 về việc tranh chấp thừa kế tài sản của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh[1]

Bà Nguyễn Thị Phiên, sinh ngày 05/02/1957 (chết ngày 10/5/2019) kết hôn với ông Nguyễn Văn Đ từ năm 1979. Chị L là con chung duy nhất của ông Đ và bà Phiên. Bà Phiên và ông Đ cùng là chủ sở hữu thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 006968. Trong thời gian bà Phiên và ông Đ thực hiện thủ tục giải quyết ly hôn thì bà Phiên chết. Trước khi chết, bà Phiên có lập di chúc để lại toàn bộ phần tài sản của mình đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 006968 cho con gái là chị L. Chị L đã có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản theo di chúc. Toà án cấp Phúc thẩm kết luận: Về tính hợp pháp của di chúc: do bị bệnh ung thư nên bà Phiên lập di chúc miệng, khi lập di chúc có hai người làm chứng là anh H và anh T đã ghi lại những lời nói của bà Phiên thành văn bản, hai anh ký tên, lập văn bản cam kết chữ ký trong di chúc và đã được chứng thực trong thời hạn pháp luật quy định nên di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật. Về tư cách người làm chứng thì anh H,  anh T đều đủ điều kiện là người làm chứng hợp pháp theo Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, bản di chúc miệng của bà Phiên lập là hợp pháp và được công nhận, bà Phiên để lại toàn bộ tài sản của bà trong khối tài sản chung của vợ chồng cho con gái là chị  L được hưởng thừa kế là hợp pháp. Tuy nhiên, ông Đ là chồng bà Phiên vẫn còn sống tại thời điểm mở thửa kế của bà Phiên, mặc dù theo di chúc ông Đ không được hưởng thừa kế tài sản của bà Phiên, nhưng theo quy tại Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông Đ có đủ điều kiện được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc. Do vậy, ông Đ vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 một suất chia thừa kế nếu chia theo pháp luật. 

2.    Bản án số 11/2022/DS-PT ngày 24/3/2022 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản của Toà án nhân dân Thành phố Hải Phòng [2]

Ông Nguyễn Hoài A2 sinh  năm  1969,  chết  ngày  24/3/2020. Anh A2 có 02 người vợ: Người vợ thứ nhất tên Vũ Thị Hoàng Y đã ly hôn năm 2010 (có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc A1, sinh năm 1994); Người vợ thứ hai tên Tống Thị L (có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2014). Sau khi anh A2 ly hôn với chị Y, cha mẹ anh A2 đã mua cho anh A2 một thửa đất diện tích 369m2, anh A2 đứng tên trong các thủ tục giấy tờ. Anh A2 đã định đoạt bằng di chúc để lại toàn bộ diện tích đất 369m2 cho cháu Nguyễn Ngọc A. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 644 của Bộ luật Dân sự thì con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ của anh Nguyễn Hoài A2 được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa  kế  theo  pháp  luật,  không  phụ  thuộc  vào  nội  dung  di  chúc. Vì  vậy, tại thời điểm mở thừa kế (ngày 24/3/2020) cha mẹ anh A2, chị Tống Thị L vẫn được hưởng  di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật mà không phù thuộc vào nội dung  di  chúc  của anh  A2. Đối với cháu Nguyễn Ngọc A1 do đã thành niên, có việc làm nên không được áp dụng quy định này –  không được hưởng di sản đối với tài sản là diện tích đất; đối với cháu Nguyễn Ngọc A do đã được anh Nguyễn Hoài A2 để lại tài sản theo di chúc nên không áp dụng quy định này.

Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương, việc lập di chúc cũng phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy dịnh. Quyền lập di chúc của cá nhân luôn được pháp luật bảo hộ, tuy nhiên, quyền tự do lập di chúc của cá nhân phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, để di chúc hợp pháp, hạn chế xảy ra tranh chấp; đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế cũng như đảm bảo ý chí của cá nhân lập di chúc trong việc phân chia tài sản của mình thì mọi cá nhân đều cần hiểu rõ về các quy định của pháp luật liên quan đến việc lập di chúc cũng như nhận thừa kế theo di chúc. 

THÙY LINH


 
[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta795837t1cvn/chi-tiet-ban-an; truy cập ngày 24/8/2024.
[2] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta924445t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 24/8/2024.

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready