Thứ năm, Ngày 21 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 13/12/2023

Một số vấn đề về thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự

Quan hệ pháp luật dân sự luôn đa dạng, phong phú về chủ thể, khách thể và hình thức phát sinh. Hầu hết các quan hệ pháp luật dân sự được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể về thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự, tuy nhiên trong thực tiễn phát sinh một số quan hệ pháp luật dân sự mà không có sự thỏa thuận giữa các chủ thể. Một trong số các quan hệ đó chính là việc thực hiện công việc không có ủy quyền. Đây là điểm đặc biệt của pháp luật dân sự nói riêng và pháp luật nước ta nói chung, thể hiện tính nhân văn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong việc tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn thông qua quy định pháp luật.

          1. Khái quát về thực hiện công việc không có ủy quyền

          Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”. Như vậy, có thể hiểu thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người tự nguyện thực hiện công việc của người khác, không dựa trên cơ sở thỏa thuận. Việc thực hiện công việc này phải hoàn toàn vì lợi ích của người khác, không vì bất cứ lợi ích nào của người thực hiện. Về mặt nguyên tắc, không ai được tự ý can thiệp vào công việc của người khác, không được thực hiện công việc của người khác theo ý chí của mình khi không có sự cho phép của người khác. Tuy nhiên, có một số trường hợp tự ý thực hiện công việc nhằm mang lại lợi ích cho người có công việc thì vẫn được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đảm bảo công bằng, trật tự trong xã hội.

          Ví dụ: Ông A về quê, nhờ hàng xóm là ông B trông hộ nhà. Trong thời gian ông A đi vắng, trời mưa bão rất to khiến cho cây xoài trong sân nhà ông A có nguy cơ gãy đổ. Do trời mưa bão to, không liên lạc được với ông A, ông B vì lo cây xoài đổ, sẽ làm sập tường rào nhà ông A nên đã tự ý chặt cây xoài. Việc làm của ông B chính là thực hiện không có ủy quyền; thực hiện công việc không có sự thỏa thuận với ông A, hoàn toàn vì lợi ích của ông A.

          2. Điều kiện xác định việc thực hiện công việc không có ủy quyền

          Theo quy định tại Điều 8, Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong các căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào việc thực hiện công việc không có ủy quyền đều được pháp luật thừa nhận, mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

          Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền là người không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc của người khác, nhưng đã hoàn toàn tự nguyện thực hiện công việc. Như vậy, có thể hiểu rằng, người thực hiện công việc không có ủy quyền thuộc trường hợp không bắt buộc phải thực hiện công việc. Giữa người thực hiện công việc và người có công việc không tồn tại bất cứ thỏa thuận nào và cũng không thuộc trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện công việc, nên họ không có bất kỳ nghĩa vụ nào. Vì vây, họ có quyền quyết định thực hiện hoặc không thực hiện công việc, mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Việc thực hiện công việc của người không có ủy quyền xuất phát từ tình cảm, từ lòng tốt, sự thiện chí của con người.

Thứ hai, việc thực hiện công việc phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc. Điều kiện này được hiểu, khi thực hiện công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này, mà phải thực hiện công việc với mục đích đem lại lợi ích của người có công việc. Để xác định việc thực hiện công việc có hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc hay không thì phải xem xét hoạt động thực hiện công việc đó có mang tính chất thường xuyên hay không. Nếu việc thực hiện công việc không được ủy quyền xuất phát từ công việc thường xuyên của người thực hiện công việc đó thì rất khó để xác định có yếu tố lợi ích hay không. Do đó, chỉ nên xác định là thực hiện công việc không có ủy quyền khi công việc xảy ra tức thì, trong một trường hợp nhất định.

Ví dụ: Chị B đi công tác, nhờ chị C hàng xóm làm nghề bán trái cây trông hộ nhà. Trong thời gian vắng nhà, vườn sầu riêng của chị B có nhiều trái chín rụng, vì sợ sầu riêng chị B hỏng nên chị C đã nhặt và bán giùm chị B. Trường hợp này, chị C bán giùm sầu riêng cho chị B là hoàn toàn tự nguyện và vì lợi ích của chị B. Tuy nhiên chị C là người chuyên bán trái cây, nên rất khó xác định việc bán sầu riêng cho chị B có yếu tố lợi ích của chị C hay không? 

Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện đó. Như vậy, trường hợp người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì không thuộc trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền. Thông thường, khi công việc được thực hiện, người có công việc thường không biết đến việc người khác thực hiện công việc cho mình, bởi nếu họ biết thì đã tự mình thực hiện công việc hoặc nhờ người khác thực hiện. Bản chất của việc thực hiện công việc không có ủy quyền là sự giúp đỡ người khác vượt qua những khó khăn, tránh những thiệt hại không đáng có. Do đó, nếu người có công việc biết việc người khác thực hiện công việc cho mình thì họ sẽ không phản đối nếu việc thực hiện công việc đó có lợi cho mình và bản thân mình không thể thực hiện được công việc đó tại thời điểm phải thực hiện công việc. Tuy nhiên, ngay cả khi người có công việc không thể thực hiện được công việc hoặc việc thực hiện công việc có thể mang lại lợi ích cho người có công việc nhưng nếu họ phản đối người khác thực hiện công việc của mình, thì người thực hiện công việc cũng không được thực hiện. Nếu họ cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm và phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Cũng cần lưu ý rằng, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội.

Thứ tư, việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết. Sự cần thiết của việc thực hiện công việc thể hiện ở chỗ nếu công việc không được thực hiện kịp thời sẽ gây thiệt hại cho người có công việc. Đây là yếu tố quan trọng, có vai trò quyết định việc thực hiện công việc có thuộc trường hợp không có ủy quyền hay không. Do đó, người thực hiện công việc muốn nhận thù lao thì phải chứng minh mình đã thực hiện công việc nhằm ngăn chặn thiệt hại cho người có công việc. 

          3. Nghĩa vụ trong thực hiện công việc không có ủy quyền

          3.1. Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền

          Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền được quy định cụ thể tại Điều 575 Bộ luật Dân sự năm 2015.  Theo đó, người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình; phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó. Khi thực hiện xong công việc, người thực hiện công việc phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu. Đối với trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó thì không phải báo. 

Trường hợp người có công việc được thực hiện là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận. Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.

Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện công việc của người khác; cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Việc thực hiện công việc giúp người khác dù là tự nguyện, không được hưởng lợi ích, cũng phải thực hiện hết trách nhiệm của bản thân. 

Bên cạnh nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định, nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền gây thiệt hại thì còn có nghĩa vụ bồi thường cho người có công việc, Cụ thể, khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện; trường hợp do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường (Điều 577 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Ví dụ: Anh Ông A trông hộ nhà cho ông B. Trong thời gian ông B đi vắng, trời mưa bão rất to khiến cho cây ăn trái trong vườn ông B có nguy cơ gãy đổ. Ông A vì lo cây đổ, sẽ làm sập tường rào nhà ông B nên đã chặt cây giúp ông B. Khi chặt cây, do vô ý, ông A làm đứt dây điện nhà ông B, gây cháy nổ, hư hỏng thiết bị điện trong nhà ông B. Trường hợp này ông A có nghĩa vụ bồi thường cho ông B, nhưng được giảm mức bồi thường vì lỗi vô ý.

          3.2. Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện

          Để đảm bảo quyền lợi cho người thực hiện công việc không được ủy quyền, nhằm phát huy giá trị đạo đức tốt đẹp của con người, Điều 576 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện. Theo đó, người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình. Bên cạnh đó, người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối. 

          Ví dụ: Ông A nhận trông nhà cho ông B để ông B đi công tác. Trong quá trình ông B vắng nhà, chẳng may tường rào nhà của ông B bị sập do bão. Vì sợ nhà ông B bị mất trộm, nên ông A đã xây lại hàng rào cho ông B. Trường hợp này ông B phải thanh toán chi phí hợp lý khi xây dựng tường rào mà ông A đã bỏ ra làm thay cho mình, kể cả trường hợp việc xây dựng tường rào không đúng ý muốn của ông B.

          4. Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền

Chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền là việc làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên, giải phóng các chủ thể khỏi quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền. Việc chấm dứt thực hiện công việc có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, thậm chí có thể ảnh hưởng đến lợi ích của cả chủ thể thứ ba có liên quan. Do đó, việc chấm dứt phải tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Cụ thể, Điều 578 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các các trường hợp chấm dứt công việc không có ủy quyền như sau:

Thứ nhất, chấm dứt theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện. 

Mặc dù mục đích của người thực hiện công việc không có ủy quyền là nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc, nhưng công việc thực hiện vô cùng đa dạng và phong phú, đôi khi việc thực hiện không đem lại lợi ích mà đang gây cản trở, thiệt hại cho người có công việc hoặc việc thực hiện công việc không phù hợp với mong muốn của người có công việc thì người có công việc có quyền yêu cầu chấm dứt việc thực hiện công việc không có ủy quyền. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, họ vẫn phải thanh toán cho người thực hiện công việc không được ủy quyền những chi phí mà người này đã bỏ ra để thực hiện công việc từ lúc bắt đầu đến khi công việc chấm dứt.

 Thứ hai, chấm dứt trong trường hợp người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được tiếp nhận thực hiện công việc. 

Trường hợp chấm dứt này được xây dựng trên cơ sở khoản 4 Điều 575 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, người thừa kế, người đại diện tiếp nhận thực hiện công việc khi người có công việc được thực hiện chết đối với cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại đối với pháp nhân. Bên cạnh đó, quy định này còn bổ sung người có công việc được thực hiện tiếp nhận thực hiện công việc cũng là căn cứ làm chấm dứt thực hiện công việc không có ủy quyền. Khi những chủ thể này tiếp nhận thực hiện công việc, đồng nghĩa với việc bên thực hiện công việc có nghĩa vụ chuyển giao công việc đó cho họ. Khi công việc được chuyển giao cho người có thẩm quyền đối với công việc thì bên thực hiện công việc không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện công việc đó nữa. 

 Thứ ba, người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc. 

Mặc dù, người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như bổn phận của mình, và theo nguyên tắc họ phải hoàn thành công việc đang thực hiện vì lợi ích của người có công việc. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công việc với sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau mà họ không thể tiếp tục thực hiện công việc nữa, thì pháp luật cho phép họ quyền được không tiếp tục thực hiện công việc. Nhưng việc dừng thực hiện công việc phải có lý do chính đáng, tránh trường hợp chủ thể trốn tránh trách nhiệm gây thiệt hại cho người có công việc. Theo đó, người thực hiện công việc có nghĩa vụ báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc là người thân thích của người này biết về việc không thể tiếp tục thực hiện công việc. Việc thực hiện công việc chấm dứt khi những chủ thể này đã tiếp nhận công việc. Phần công việc đã được người thực hiện công việc hoàn thành nếu làm phát sinh chi phí, thì người có thẩm quyền đối với công việc vẫn phải thanh toán cho người thực hiện những khoản chi phí đó.

Thứ tư, người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc chung về căn cứ chấm dứt nghĩa vụ quy định tại khoản 8 Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, thực hiện công việc không có ủy quyền không phải nghĩa vụ mang tính bắt buộc, chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện mà không phải chịu bất kỳ chế tài. Trước thời điểm bắt đầu thực hiện công việc, các bên không có quyền và nghĩa vụ pháp lý bị ràng buộc với nhau. Do đó, khi người thực hiện công việc chết hoặc chấm dứt tồn tại đồng thời làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện công việc của họ mà không buộc người thừa kế, hay người đại diện phải tiếp nhận thực hiện công việc đó.

                                            Phan Hiền

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready