Một số quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lao động, việc làm của người khuyết tật
Ở Việt Nam, người khuyết tật là một trong những nhóm đối tượng xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển. Theo đó, khái niệm người khuyết tật được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 như sau: “người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Đảng và Nhà nước khẳng định hỗ trợ người khuyết tật khắc phục khó khăn, hòa nhập xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, xã hội. Cụ thể, khoản 2 Điều 59 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”; khoản 3 Điều 61 Hiến pháp năm 2013 quy định, “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề”.
Để hiện thực hoá các mục tiêu trên, Nhà nước đã ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật tạo hành lang pháp lý toàn diện thực hiện mục tiêu hỗ trợ người khuyết tật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, các quy định về quyền lao động, việc làm của người khuyết tật là một trong những trọng tâm trong công tác hỗ trợ người khuyết tất hoà nhập cộng đồng.
Theo đó, quyền lao động, việc làm của người khuyết tật được quy định cụ thể trong pháp luật nước ta như sau:
1. Về việc làm đối với người khuyết tật (Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010):
- Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật.
- Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật.
- Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật.
- Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật.
- Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.
- Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ.
2. Quy định về sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 159 Bộ luật Lao động năm 2019):
- Người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ phù hợp với người lao động là người khuyết tật.
- Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.
3. Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2019):
- Sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý.
- Sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó.
4. Chính sách hỗ trợ cơ sở kinh doanh có nhiều người lao động khuyết tật (Điều 34 Luật Người khuyết tật năm 2010):
- Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật;
- Được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh;
- Được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp.
Có thể thấy, Việt Nam đã có những bước tiến trong việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế và pháp để bảo vệ các quyền của người khuyết tật, trong đó có quyền lao động; các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về công tác người khuyết tật, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật đã được quan tâm chú ý. Điều đó đã góp phần thay đổi quan niệm, nhận thức của xã hội về người khuyết tật nói chung và quyền lao động việc làm của người khuyết tật nói riêng.
Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tiến tới mục tiêu hiện thực hoá quy định của pháp luật về quyền lao động và việc làm của người khuyết tật tại Việt Nam, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về người khuyết tật, quyền lao động và việc làm của người khuyết tật./.
Hà Ngân