Một số lưu ý khi đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu về dịch vụ pháp lý của luật sư (tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác) ngày càng gia tăng; dẫn đến sự gia tăng về số lượng văn phòng luật sư, công ty luật TNHH và công ty luật hợp danh (tổ chức hành nghề luật sư) trên địa bàn tỉnh. Nếu như năm 2012, trên địa bàn tỉnh chỉ có 20 tổ chức hành nghề luật sư (văn phòng luật sư, công ty luật TNHH MTV) thì hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có 46 tổ chức hành nghề luật sư với đa dạng về loại hình hoạt động.
Theo quy định, luật sư muốn thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên, hồ sơ đăng ký hoạt động gồm (1) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu (2) Dự thảo Điều lệ nếu thành lập công ty luật (3) Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lập văn phòng luật sư, thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật; (4) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư, Sở Tư pháp nhận thấy các hồ sơ đăng ký hoạt động chưa chính xác, cần phải sửa đổi, bổ sung; dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký hoạt động. Các lỗi thường gặp cụ thể như sau:
(1) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động thường thiếu/sai thông tin. Tuy đã có biểu mẫu TP-LS-02 ban hành kèm theo Thông tư 05/2021/TT-BTP ngày 24/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư nhưng một số tổ chức sử dụng chưa đúng biểu mẫu, các thông tin chưa đầy đủ. Ví dụ như: về tên gọi, biểu mẫu quy định 03 tên gọi theo thứ tự ưu tiên nhưng phần lớn các giấy đề nghị đăng ký hoạt động chỉ thể hiện 01 tên gọi; các thông tin khác như giới tính, thẻ luật sư, ngày cấp, chỗ ở hiện nay, mẫu chữ ký... đều đã có trong biểu mẫu nhưng tình trạng điền thiếu, điền sai thông tin rất phổ biến.
(2) Các giấy tờ trong hồ sơ thường không thống nhất, ví dụ như: địa chỉ trụ sở, số điện thoại, website tại Giấy đề nghị đăng ký hoạt động không thống nhất với địa chỉ trụ sở tại Dự thảo điều lệ công ty, Hợp đồng thuê nhà.
(3) Dự thảo Điều lệ của Công ty tuy đã được quy định chi tiết tại Điều 7 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư (sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 137/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018), nhưng dự thảo điều lệ khi nộp hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư không đảm bảo các nội dung như: không quy định về việc tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thủ tục thanh lý tài sản hoặc có quy định nhưng căn cứ theo quy định của Luật Doanh nghiệp; phần lớn các tổ chức hành nghề luật sư đều ghi nhận thời hạn hoạt động là 50 năm kể từ ngày được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty có thể chấm dứt hoạt động trước thời hạn hoặc kéo dài thêm thời gian hoạt động theo quyết định của Hội đồng thành viên hoặc theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, Luật Luật sư không có quy định về thời hạn hoạt động, trường hợp công ty quy định như vậy thì cơ quan quản lý nhà nước phải theo dõi thời hạn hoạt động của Công ty; hay các thuật ngữ tại dự thảo chưa chính xác như cơ quan đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…
(4) Giấy tờ chứng minh trụ sở không đầy đủ, chỉ có hợp đồng thuê nhà được ký kết giữa các bên, chưa có giấy tờ chứng minh tài sản thuộc sở hữu của bên cho thuê, quyền cho thuê phần diện tích này để sử dụng vào mục đích văn phòng làm việc (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm giấy phép xây dựng; hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm giấy tờ xác nhận trên đất có nhà ở…)
(5) Một số tổ chức hành nghề luật sư nộp hồ sơ đăng ký hoạt động, chưa được Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định đã tự ý treo biển hiệu. Đây là hành vi vi phạm hành chính được quy định tại điểm b khoản 6 Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã: việc treo biển hiệu khi tổ chức hành nghề luật sư do mình thành lập hoặc tham gia thành lập chưa được đăng ký hoạt động bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
(6) Ngoài ra, các luật sư đề nghị thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư thường chưa cung cấp được giấy tờ chứng minh thời gian hành nghề theo quy định về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư (có ít nhất 02 năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định) hoặc các giấy tờ chưa đảm bảo việc chứng minh hành nghề liên tục.
Khi hồ sơ có yêu cầu làm rõ, bổ sung, người nộp hồ sơ nên nghiên cứu kỹ chính quy định pháp luật chuyên ngành của mình (Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành) để đảm bảo hồ sơ đầy đủ, đúng quy định pháp luật; góp phần cho việc giải quyết được nhanh chóng, thuận lợi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình./.
Tuyết Nhung