Khó khăn, vướng mắc và bất cập trong xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến các vụ án hình sự
Vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, thông thường, vi phạm pháp luật được phân chia thành các nhóm cơ bản như: vi phạm hành chính, vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật… Trong đó, vi phạm hành chính và vi phạm hình sự là những vi phạm phổ biến nhất, điểm khác biệt cơ bản giữa hai vi phạm này là mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hình sự cao hơn so với vi phạm hành chính. Thực tế hiện nay, khá nhiều trường hợp cùng một vụ vi phạm pháp luật người vi phạm vừa thực hiện hành vi vi phạm hành chính vừa thực hiện hành vi vi phạm hình sự hay trường hợp một vụ vi phạm pháp luật có nhiều người thực hiện hành vi vi phạm, trong đó có người vi phạm hành chính và có người vi phạm hình sự; tuy nhiên, các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này còn nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là các quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
1. Về việc chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính
Tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực”.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 9 và Điều 21 Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng công an nhân dân thì “Quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan này”. Như vậy, quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực khi được sự đồng ý bằng văn bản của Viện kiểm sát; thực tế việc chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân phải phụ thuộc vào thời gian nhận được văn bản đồng ý của cơ quan Viện Kiểm sát chứ không phụ thuộc vào thời điểm có hiệu lực của quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Do đó, quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc “kể từ ngày quyết định có hiệu lực” tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính là chưa phù hợp, tác giả cho rằng cần xem xét, sửa đổi quy định này theo hướng trong “Thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền” cho phù hợp.
2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính
Điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính”. Như vậy, đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, thực tiễn nhiều vụ vi phạm pháp luật nghiệm trọng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải mất nhiều thời gian để đưa ra kết luận chính xác để xác định được rằng người vi phạm có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Thậm chí không ít trường hợp phải tạm đình chỉ điều tra vụ án do các lý do sau: chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án và phải tiến hành truy nã bị can; có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo; chưa có kết quả giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp hoặc không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra. Hay một số trường hợp phải tạm đình chỉ vụ án do các lý do sau: bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo phải tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh; bị cáo bỏ trốn và phải tiến hành truy nã… Việc tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ vụ án làm kéo dài thời gian cơ quan tiến hành tố tụng xem xét vụ việc dẫn đến có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng khi xác định bị can/ bị cáo không phạm tội hình sự và chuyển hồ sơ để xử lý vi phạm hành chính, nhưng khi đó cơ quan có thẩm quyền lại không thể tiến hành xử phạt vi phạm hành chính vì đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
Vấn đề đặt ra là thời gian tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ vụ án… có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không? Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định là thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, điểm d khoản 1 điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định trong thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính “cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt”. Tuy nhiên; việc trốn tránh, cản trở này là trong giai đoạn đã xác định được người vi phạm thực hiện hành vi vi phạm hành chính, còn trong trường hợp vụ việc đang được xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự mà người vi phạm bỏ trốn thì thời gian bỏ trốn này có được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không thì pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể. Do đó, tác giả cho rằng Luật Xử lý vi phạm hành chính cần quy định cụ thể hơn về những trường hợp không tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
3. Về việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đồng thời cũng là vật chứng trong vụ án hình sự
Đối với vụ vi phạm được thụ lý thông qua quy trình tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của ngành công an mà có nhiều người thực hiện hành vi vi phạm, trong đó có trường hợp bị đề nghị xử phạt vi phạm hành chính, có trường hợp bị đề nghị truy cứu tránh nhiệm hình sự; tang vật, phương tiện vi phạm là vật chứng đang được xử lý theo quy trình thủ tục tố tụng hình hình sự, tuy nhiên nếu hành vi vi phạm hành chính có quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm” thì sẽ xử lý như thế nào? Trong khi khoản 6 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “áp dụng hình thức xử phạt không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Mặt khác, tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định khi chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển cả tang vật, phương tiện của vụ vi phạm.
Vấn đề đặt ra là trong trường hợp này người có thẩm quyền có phải áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm” không? Việc áp dụng sẽ thực hiện như thế nào? Cơ quan tiến hành tố tụng có phải chuyển tang vật, phương tiện vụ vi phạm là vật chứng đến người có thẩm quyền xử phạt không?
Theo đó, pháp luật xử lý vi phạm hành chính chỉ quy định xử lý tang vật, phương tiện vi phạm trong trường hợp tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính; hoặc quy định trong một số trường hợp, nếu tang vật vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật thì buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm, như tại điểm q khoản 3 Điều 4 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP quy định “Trường hợp khoáng sản đã tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật thì buộc nộp lại số tiền bằng trị giá toàn bộ tang vật là khoáng sản đã tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy”.
Liên quan đến việc xử lý vật chứng cũng là tang vật, phương tiện vi phạm, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định như sau“1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
…
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.
Có thể thấy, pháp luật xử lý vi phạm hành chính và pháp luật tố tụng hình sự đều không quy định việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đồng thời là vật chứng trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, nếu căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tác giả cho rằng, đối với vụ vi phạm đang được thụ lý thông qua quy trình tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của ngành công an nên được xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và tang vật, phương tiện vi phạm là vật chứng được xử lý theo vụ án hình sự. Do đó, khi chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan tiến hành tố tụng không cần chuyển tang vật, phương tiện của vụ vi phạm là vật chứng; người có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính với lý do “tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được xử lý theo vụ án hình sự”. Đồng thời, cần có hành lang pháp lý điều chỉnh cụ thể vấn đề này, để có cơ sở cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính áp dụng thống nhất, đồng bộ.
Như vậy, từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đã cho thấy có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Điều này đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn đối với quy định pháp luật cụ thể nêu trên là cơ sở để việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính được thực hiện thống nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, đồng thời, góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay./.
Phương Linh