Thứ ba, Ngày 19 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 15/05/2024

Hình thức hợp đồng dân sự - thực tiễn áp dụng

Trong cuộc sống hiện nay, Hợp đồng dân sự tồn tại ở khắp mọi nơi, xuất hiện thường xuyên trong hoạt động của mỗi con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ việc giao kết hợp đồng như thế nào cho đúng quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân mình. Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”; Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, do đó, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, cụ thể Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

-         Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

-         Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

-         Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

-         Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Thiếu một trong bất kỳ điều kiện nào nêu trên thì đều có thể dẫn đến việc Hợp đồng vô hiệu[1]. Trên thực tiễn, trường hợp vi phạm về hình thức của Hợp đồng diễn ra rất phổ biến, nhiều trường hợp dẫn đến hợp đồng vô hiệu, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của các bên khi tham gia hợp đồng. Vì vậy, các chủ thể khi tham gia giao kết Hợp đồng dân sự cần hiểu rõ về hình thức hợp đồng đối với mỗi loại Hợp đồng cụ thể nhằm bảo vệ được quyền lợi của mình. 

1.     Hình thức hợp đồng

Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định có 03 hình thức của hợp đồng gồm:

(1) Hợp đồng bằng lời nói

Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngôn ngữ nói, có thể hiểu hợp đồng bằng lời nói là việc, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói)…để diễn đạt tư tưởng và ý muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng.

Trong cuộc sống hiện nay, hợp đồng bằng lời nói là loại hợp đồng rất phổ biến (ví dụ như giao dịch cho vay, mượn tài sản giữ người thân, bạn bè hay hoạt động mua bán ở chợ....), trừ những loại hợp đồng pháp luật qui định hình thức bắt buộc, các hợp đồng đều có thể được lập bằng lời nói. Tuy vậy, các giao dịch dân sự bằng lời nói thường không đảm bảo tính pháp lý cao do dễ dẫn đến những tranh chấp rất khó giải quyết (khi một bên trong hợp đồng phủ nhận sự tồn tại của thỏa thuận do muốn trốn tránh nghĩa vụ, bên còn lại khó có thể chứng minh được do hình thức hợp đồng đã lựa chọn). Do đó, đối với hình thức giao dịch dân sự bằng lời nói chỉ nên áp dụng trong một số trường hợp như: Các chủ thể có sự tin tưởng lẫn nhau; Giao dịch có giá trị thấp; Những giao dịch được thực hiện trong một thời gian ngắn.

(2) Hợp đồng bằng văn bản (bao gồm các hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử)

Hợp đồng bằng văn bản có thể hiểu là: Hợp đồng được thể hiện dưới dạng hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và bảo bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó. Ngoài các hợp đồng văn bản truyền thống, Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã quy định các giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử cũng được coi là giao dịch bằng văn bản[2]. 

Tất cả các hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự đều có thể được giao kết bằng văn bản, việc thể hiện đầy đủ các nội dung về đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng dân sự sẽ là căn cứ để các chủ thể tham gia hợp đồng có trách nhiệm trong việc thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, đối với một số loại hợp đồng có tính chất phức tạp, đối tượng hợp đồng là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, cần phải đăng ký quyền sử dụng và quyền sở hữu thì pháp luật dân sự có quy định bắt buộc các bên giao dịch phải ký kết hợp đồng thông qua văn bản có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật chuyên ngành (Ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng mua bán ô tô, xe máy; Hợp đồng tặng cho bất động sản …).  Việc công chứng, chức thực sẽ giúp chủ thể tham gia giao kết hợp đồng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng[3]. 

Khác với hợp đồng bằng lời nói vốn không để lại bằng chứng, thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên muốn cam kết.

(3) Hợp đồng giao kết bằng hành vi cụ thể

Trong nhiều trường hợp, khi một bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kêt hợp đồng từ phía bên kia và thể hiện đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đã chuyển tín hiệu đồng ý đến cho bên kia biết thì hành vi cụ thể đó cũng được coi như hình thức biểu hiện của hợp đồng. Tương tự như hình thức hợp đồng bằng lời nói, việc giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể thường không đảm bảo tính pháp lý cao. Do đó, các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng cần cân nhắc trước khi sử dụng hình thức hợp đồng này đối với các giao dịch có giá trị lớn. 

2.     Trường hợp Hợp đồng không vô hiệu do vi phạm về hình thức

Ngoài các trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức thì pháp luật dân sự vẫn có quy định một số trường hợp dù Hợp đồng vi phạm hình thức nhưng vẫn được công nhận về mặt hiệu lực pháp lý. Cụ thể, tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: 

“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Việc quy định công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm về hình thức như trên đã phản ánh tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí và cam kết của các bên, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung và các nguyên tắc tự do trong hợp đồng của Bộ luật Dân sự nói riêng.

Về thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vô hiệu, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: 

“1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.”

Như vậy, theo quy định này thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức là hai năm. 

Trên thực tiễn cũng đã có trường hợp tranh chấp liên quan đến Hợp đồng dân sự vi phạm về hình thức, đơn cử như Bản án số 98/2024/DS-PT ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc tranh chấp dân sự - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản[4].

 Nguyên đơn là Bà Nguyễn Thị T và bị đơn là Ông Nguyễn Thanh D đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 11/10/2018, để Bà Tđược tiếp tục sử dụng, đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D đã thừa nhận có việc thỏa thuận chuyển nhượng đất cho bà T, ông D đã giao đất cho Bà T quản lý, sử dụng; Căn cứ vào giấy thỏa thuận bán đất lập ngày 11/10/2018 giữa Bà T với ông D và bà D thì nội dung thỏa thuận của các bên là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó, ông D và bà D đồng ý chuyển nhượng cho Bà T phần diện tích đất 120m2, thuộc một phần thửa 827, tờ bản đồ số 19 được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 827 vào ngày 28/8/2010. Về hình thức của giao dịch: Mặc dù giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự nhưng Bà T đã giao đủ 100.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất cho ông D, phía ông D cũng đã giao đất cho bên nguyên đơn sử dụng và hiện nguyên đơn đã xây nhà, làm hàng rào và trồng cây trên toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng, nghĩa là Bà T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/10/2018 để Bà Tđược tiếp tục sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng đất là có cơ sở chấp nhận.

Mặc dù pháp luật có quy định để bảo vệ các bên có quyền trong các giao dịch vi phạm về hình thức của hợp đồng, tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp các bên buộc phải khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết yêu cầu công nhận hợp đồng hoặc yêu cầu vô hiệu hợp đồng vi phạm về hình thức, điều này gây mất thời gian, công sức, tiền bạc của các chủ thể tham gia hợp đồng. Do đó, ngay từ khi giao kết hợp đồng các bên cần tuân thủ quy định của pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung và hình thức của hợp đồng nói riêng để tránh dẫn đến những rủi ro không đáng có cho mình./.

Thùy Linh


 
[1] Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015
[2] Chương IV Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2024)
[3] Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014
[4] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1478365t1cvn/chi-tiet-ban-an

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready