Thứ năm, Ngày 21 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 13/12/2023

Giải quyết quyền lợi cho các chủ nợ của doanh nghiệp trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp

Giải quyết quyền lợi cho các chủ nợ của doanh nghiệp trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được đăng ký mới ngày càng nhiều, riêng trong năm 2023, tổng số doanh nghiệp được thành lập mới là 131.777 doanh nghiệp [1]. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng lên đồng nghĩa với việc gia tăng sự cạnh tranh đối với các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề giống nhau, những doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ buộc phải ngừng hoạt động kinh doanh. Nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp và thường gọi chung việc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh trên thực tế là “doanh nghiệp bị phá sản”; tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp thì đây là hai thủ tục hoàn toàn khác nhau. Mặc dù cả thủ tục giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp đều dẫn đến hậu quả pháp lý giống nhau là chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp; bị thu hồi con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản nhưng giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp qua một số điểm khác nhau như:

Thứ nhất, dựa trên Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020 có thể hiểu giải thể doanh nghiệp là quá trình dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ cũng như nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài; còn theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. 

Thứ hai, điều kiện để thực hiện thủ tục: Theo quy định tại Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau: Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác; đồng thời doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Toà án hoặc Trọng tài. Trong khi, để thực hiện phá sản doanh nghiệp chỉ cần điều kiện là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán). 

Thứ ba, doanh nghiệp có thể bị giải thể do xuất phát từ vi phạm pháp luật của doanh nghiệp hoặc từ ý chí tự nguyện của chủ doanh nghiệp quyết định giải thể doanh nghiệp. Còn đối với phá sản doanh nghiệp, lý do phá sản doanh nghiệp không bắt nguồn từ hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp mà bắt nguồn từ yêu cầu của những chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp (các chủ nợ không có đảm bảo của doanh nghiệp, người lao động) hoặc xuất phát từ ý chí của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp, cổ đông công ty theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014. 

Thứ tư, quyền quyết định: Giải thể doanh nghiệp có thể theo quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập doanh nghiệp quyết định. Còn đối với phá sản doanh nghiệp chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định tiến hành các thủ tục phá sản và tuyên bố phá sản.

Đa số các doanh nghiệp để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh đều sẽ thực hiện hoạt động vay vốn từ bên ngoài, có thể là vay vốn của các tổ chức tín dụng, của cá nhân/pháp nhân khác hoặc nợ tiền nguyên liệu trong quá trình sản xuất, kinh doanh,… Vậy, quyền lợi của các chủ nợ khi doanh nghiệp giải thể, phá sản được giải quyết như thế nào? Họ có thể nhận lại toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã nợ họ hay không? Đây là điều mà rất nhiều chủ nợ quan tâm khi một doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản. 

 Đối với doanh nghiệp bị giải thể

Khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp”. Có nghĩa là doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ trước khi giải thể doanh nghiệp, cụ thể Điều 208, Điều 209 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định doanh nghiệp buộc phải có nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ gửi đến các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích có liên quan. (Trường hợp doanh nghiệp giải thể do bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án thì người quản lý có liên quan và doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp). 

Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi tối ưu cho các chủ nợ khi doanh nghiệp bị giải thể nhưng cũng dẫn đến nhiều doanh nghiệp cố ý không đăng ký thủ tục giải thể doanh nghiệp hoặc đăng ký thủ tục tạm ngừng kinh doanh với mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ. 

Đối với doanh nghiệp bị Toà án tuyên bố phá sản

Theo khoản 1, khoản 3 Điều 54 Luật Phá sản năm 2014 thì trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp được phân chia theo thứ tự sau:

(1)  Chi phí phá sản;

(2)  Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã ký kết;

(3)  Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

(4)  Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán đối với các khoản nêu trên thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Theo quy định trên, các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ và khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ nằm ở thứ tự ưu tiên thanh toán cuối cùng, có nghĩa là chủ nợ có thể chỉ được thanh toán khoản nợ hoặc được thanh toán một tỷ lệ nhỏ trong khoản nợ, thậm chí trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn được quy định tại Điều 105 Luật Phá sản năm 2014 thì nếu chủ nợ là chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng không được hoàn lại lệ phí phá sản, tiền tạm ứng chi phí phá sản đã nộp. Tuy nhiên, không phải loại hình doanh nghiệp nào khi bị tuyên bố phá sản cũng chỉ thanh toán nghĩa vụ về tài sản dựa trên những tài sản còn lại của doanh nghiệp, cụ thể tại khoản 1 Điều 110 Luật Phá sản năm 2014 quy định: Quyết định tuyên bố doanh nghiệp quy định tại các Điều 105, 106 và 107 của Luật Phá sản năm 2014 không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục phá sản có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc thu hồi nợ càng khó khăn hơn đối với các chủ nợ khi thời gian giải quyết thủ tục phá sản (kể từ khi bắt đầu mở thủ tục phá sản đến lúc Toà án tuyên bố một doanh nghiệp phá sản) có thể rất dài; vì thế chủ nợ phải tốn nhiều công sức, tiền bạc để tham gia suốt quá trình giải quyết thủ tục phá sản (bắt đầu từ việc cung cấp hồ sơ chủ nợ, tham gia các hội nghị chủ nợ, các lần triệu tập thu thập chứng cứ của Toà án,…). Một trong các vụ việc phá sản lớn tại Việt Nam hiện nay như vụ việc Toà án tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra quyết định tuyên bố phá sản đối với Công ty TNHH đóng tàu và cơ khí hàng hải Sài Gòn (Sofel): Sofel được mở thủ tục phá sản từ thời điểm tháng 9/2018 nhưng đến tháng 4/2023 mới chính thức bị Toà án tuyên bố phá sản. Trong quá trình giải quyết vụ việc trước khi mở hội nghị chủ nợ, Tòa án tiếp nhận 217 hồ sơ của các chủ nợ với số tiền lên đến hơn 3.301 tỉ đồng, trong đó Tòa án đã có quyết định giao cho các tổ chức tín dụng tài sản của Sofel đã thế chấp để bán cấn trừ các khoản nợ có bảo đảm với số tiền lên đến hơn 1.170 tỉ đồng. Đến thời điểm tổ chức hội nghị chủ nợ, còn 212 hồ sơ yêu cầu đòi nợ đối với Sofel, với tổng số tiền lên đến hơn 2.051 tỉ đồng (có đến hơn 1.768 tỉ đồng nợ không có bảo đảm, và chỉ có hơn 283 tỉ đồng là có bảo đảm). Tuy nhiên, hiện tại theo kiểm kê của công ty quản lý tài sản thanh lý thì tài sản còn lại hiện tại của Sofel chỉ có trị giá gần 73 tỉ đồng (Trong đó có tài sản trị giá 42 tỉ đồng là tài sản mà Sofel thế chấp cho một ngân hàng, tài sản còn lại có trị giá gần 31 tỉ đồng)[2]. Qua vụ việc trên có thể thấy, chưa cần nhắc đến các khoản nợ phải ưu tiên thanh toán tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 54 Luật Phá sản năm 2014 thì tài sản của Sofel cũng chỉ có thể đảm bảo thanh toán được một phần rất nhỏ số nợ của các chủ nợ, gây thiệt hại rất lớn cho các chủ nợ không có đảm bảo. 

Quan hệ cho vay giữa chủ nợ và doanh nghiệp về bản chất là quan hệ dân sự nên dù được sự đảm bảo thanh toán theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về phá sản thì các chủ nợ cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi “đòi” nợ sau thời điểm doanh nghiệp đã giải thể, phá sản. Các doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quan đến nghĩa vụ trả nợ do không phải chịu các chế tài về hành chính, hình sự nên dễ dẫn đến tình trạng “chây ì”, không trả nợ đúng hạn, bỏ mặc doanh nghiệp khi rơi vào tình trạng phá sản. Do đó, để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của mình đòi hỏi các chủ nợ cần tìm hiểu rõ về tình trạng doanh nghiệp, khả năng trả nợ của doanh nghiệp hoặc cần có các biện pháp bảo đảm trước khi cho doanh nghiệp vay vốn; và khi đã cho doanh nghiệp vay vốn thì ngay khi doanh nghiệp có dấu hiệu quá hạn thanh toán nợ trong thời gian dài cần có biện pháp để thu hồi khoản nợ đã cho vay trong thời gian sớm nhất./.

Thuỳ Linh


 
[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/solieudoanhnghiep.aspx truy cập ngày 18/11/2023
[2] https://tuoitre.vn/cong-ty-sofel-pha-san-no-hon-2-000-ti-dong-cua-hon-200-doanh-nghiep-viet-2023042611221989.htm truy cập ngày 18/11/2023

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready