Giải pháp tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật
Người khuyết tật là đối tượng yếu thế trong xã hội, cần được Đảng, Nhà nước và cộng đồng quan tâm sâu sắc đặc biệt là trong công tác hỗ trợ thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Khoản 1 Điều 2 Luật Người Khuyết tật năm 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Đây là những đối tượng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các vấn đề như giáo dục, việc làm, y tế, giao thông, các công trình xây dựng..., đặc biệt là việc tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL)...
Chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật
Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL cho người khuyết tật trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng này nói riêng và nhân dân nói chung, trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sách chăm lo, bảo đảm quyền và phát huy vai trò của người khuyết tật, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Điển hình như: Việt Nam đã gia nhập Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006; nhiều thể chế, chính sách liên quan đến người khuyết tật đã được ban hành như: Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 đã xác định cần “có chính sách hỗ trợ nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và các đối tượng thiệt thòi”, “tích cực đổi mới, đa dạng hóa các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của từng nhóm đối tượng”; Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật. Quốc hội đã ban hành Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (quy định người khuyết tật là đối tượng được trợ giúp pháp lý). Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật năm 2010. Đặc biệt, ngày 08/5/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1190/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 - 2030. Bên cạnh đó, Bộ trưởng các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng, Giao thông vận tải… đã ban hành nhiều Thông tư để hướng dẫn các vấn đề liên quan đến người khuyết tật.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cũng đã xác định người khuyết tật là một trong 06 nhóm đối tượng đặc thù (Điều 20), đồng thời quy định những nội dung pháp luật thiết thực, liên quan trực tiếp đến đối tượng này; các hình thức PBGDPL cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những chính sách về PBGDPL cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, chế độ, chính sách đối với cá nhân thực hiện PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù (trong đó có người khuyết tật) được quy định tại Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Thông tư số 56/2023/TT-BTC ngày 18/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở.
Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật của người khuyết tật, với chủ trương “không ai bị bỏ lại phía sau”, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã chú trọng việc tạo điều kiện cho một số đối tượng đặc thù tiếp cận thông tin (trong đó có thông tin pháp luật cho người khuyết tật) cụ thể: “Đối với đối tượng là người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, ngoài các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan nhà nước xác định hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng, điều kiện tiếp cận thông tin của công dân” (Điều 18). Bên cạnh đó, Đề án “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân” đã xác định người khuyết tật là một trong những đối tượng đặc thù cần quan tâm PBGDPL, tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật. Đề án đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện mục tiêu “Nhận thức, trách nhiệm và thói quen tìm hiểu, sử dụng và tuân theo pháp luật của người dân, đặc biệt là đối tượng đặc thù, trẻ em, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được nâng cao”. Trong đó, Đề án đề ra nhiệm vụ nâng cao năng lực, hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức đại diện để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ thông tin pháp luật, PBGDPL cho hội viên, thành viên của tổ chức mình.
Như vậy, có thể khẳng định chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật là một chủ trương nhất quán, với nhiều chính sách hỗ trợ tích cực nhằm tạo điều kiện cho đối tượng này khắc phục thiệt thòi trong tiếp cận pháp luật, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật.
Khó khăn, thách thức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật thời gian qua
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người khuyết tật được tiếp cận thông tin, đặc biệt là các quy định pháp luật, song, việc PBGDPL cho người khuyết tật vẫn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, đời sống và trình độ học vấn còn hạn chế. Việt Nam hiện có khoảng hơn 7 triệu người khuyết tật (chiếm hơn 7% dân số cả nước), trong đó có 87,27% sống ở nông thôn (tỷ lệ người khuyết tật số ở khu vực này thuộc diện nghèo và cận nghèo thường cao gấp 3 tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước). Số người khuyết tật còn trong độ tuổi lao động là 61%, trong đó 40% còn khả năng lao động. Trình độ học vấn của người khuyết tật thấp, hơn 41% số người khuyết tật từ 6 tuổi trở lên không biết chữ và số có trình độ từ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên chỉ chiếm 19,5%[1]
Thứ hai, thiếu kinh phí để thực hiện PBGDPL cho người khuyết tật. Kinh phí là một trong những điều kiện cần để tạo ra được hình thức, phương thức, phương tiện, tài liệu phù hợp và đầy đủ cho người khuyết tật (chưa bàn tới số lượng, chất lượng của các yếu tố nêu trên chỉ đủ đáp ứng cho một bộ phận người khuyết tật). Chẳng hạn như các chương trình, hội thảo hầu như chưa có “phiên dịch viên” ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính, chưa có tài liệu chữ nổi cho người khiếm thị, cơ sở vật chất chưa đảm bảo cho người khuyết tật vận động di chuyển… Nguồn kinh phí PBGDPL của các cơ quan, tổ chức thụ hưởng ngân sách do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Như vậy, bên cạnh ngân sách nhà nước, kinh phí thực hiện hoạt động này còn phụ thuộc vào các nguồn hợp pháp khác như sự tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân cho hoạt động PBGDPL. Sự tài trợ, hỗ trợ này là nhiều hay ít cũng sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng địa phương và sự nhận thức của cá nhân, tổ chức địa phương đó.
Thứ ba, tâm lý e ngại, mặc cảm, tự ti của người khuyết tật. Người khuyết tật là những người có khiếm khuyết về mặt cơ thể, trí tuệ, thậm chí có những người do hoàn cảnh khó khăn, không được tiếp xúc với giáo dục nhà trường, sống khép kín, mặc cảm, ngại giao tiếp với thế giới bên ngoài. Một số người khuyết tật được bao bọc quá kỹ bởi gia đình, không giao tiếp với mọi người xung quanh sẽ rất ít có cơ hội được tiếp xúc với các dịch vụ cộng đồng như giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao… Như vậy, nếu như coi sự ban hành cơ chế, chính sách của Nhà nước và việc thực thi pháp luật là điều kiện cần, thì sự hưởng ứng của người khuyết tật trong việc thực hiện các chính sách ấy chính là điều kiện đủ tạo nên tính hiệu quả và khả thi. Bên cạnh đó, một số người khuyết tật có khó khăn về tài chính, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa cũng ít có điều kiện được tiếp cận với giáo dục pháp luật. Việc thiếu kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin cùng điều kiện hạn chế về tài chính, internet, sở hữu các thiết bị hỗ trợ người khuyết tật (máy trợ thính, tài liệu chữ nổi Braile, xe lăn…) cũng là nguyên nhân lớn xuất phát từ phía người khuyết tật trong vấn đề được tiếp cận thông tin, giáo dục pháp luật.
Bên cạnh đó, mỗi nhóm đối tượng khuyết tật có phương pháp tiếp cận và công cụ phổ biến khác nhau, trong khi số lượng chuyên gia vừa có kiến thức về pháp luật, vừa hiểu biết nhu cầu đặc thù của người khuyết tật còn ít, đặc biệt là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa…
Tóm lại, việc PBGDPL cho người khuyết tật tại Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn với nguyên nhân từ nhiều yếu tố. Bên cạnh việc Đảng và Nhà nước ban hành chính sách, chế độ ưu đãi dành cho người khuyết tật, cộng đồng xã hội cần chung tay thực hiện một cách có hiệu quả các chính sách ấy, nhằm giúp người khuyết tật ngày càng được cải thiện, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức pháp luật, từ đó đảm bảo người khuyết tật được hưởng đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Giải pháp tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người khuyết tật
Công tác PBGDPL cho người khuyết tật là hoạt động khó, cần sự đầu tư thỏa đáng và được thực hiện thường xuyên, liên tục. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thì việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật cho công dân có vai trò rất quan trọng, nhất là đối với những người hiểu biết pháp luật còn hạn chế, gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, pháp luật. Để tăng cường công tác PBGDPL cho người khuyết tật, cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành; tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thường xuyên, kịp thời của cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp.
Thứ hai, tiếp tục quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về PBGDPL cho các đối tượng đặc thù nói chung và người khuyết tật nói riêng; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong PBGDPL và điều phối nguồn lực để bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả.
Thứ ba, về nội dung, công tác PBGDPL phải chú trọng khảo sát, nắm bắt nhu cầu của người khuyết tật; phổ biến những văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, liên quan trực tiếp đến người khuyết tật; đồng thời, bám sát các vấn đề dư luận, xã hội quan tâm… Về hình thức, phải đổi mới, đa dạng hóa các phương tiện và hình thức truyền thông phù hợp với từng dạng khuyết tật (sách chữ nổi Braille, âm thanh cho người khiếm thị; video có ngôn ngữ ký hiệu hoặc phụ đề cho người khiếm thính…); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; lồng ghép việc truyền thông, PBGDPL đến người khuyết tật tại cơ sở, cộng đồng nơi người khuyết tật sinh sống…
Thứ tư, củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ người làm công tác PBGDPL; chú trọng tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về pháp luật và kỹ năng truyền đạt thông tin cho người khuyết tật; kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết các mô hình hay, cách làm hiệu quả để nhân rộng…
Thứ năm, công tác PBGDPL nói chung, PBGDPL cho người khuyết tật nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Chính vì vậy, các tổ chức Hội Người khuyết tật cấp tỉnh cần chủ động phối hợp với Sở Tư pháp, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia cấp tỉnh trong triển khai thông tin, PBGDPL, trợ giúp pháp lý cho thành viên, hội viên của tổ chức mình.
Thứ sáu, bên cạnh việc Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác PBGDPL cho người khuyết tật, cần quan tâm thu hút sự tham gia, hỗ trợ của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung về cơ chế, chính sách xã hội hóa để khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, hỗ trợ công tác này. Quan tâm bố trí phương tiện, cơ sở vật chất, tài liệu hỗ trợ để đáp ứng yêu cầu của công tác PBGDPL cho từng nhóm đối tượng cụ thể, ví dụ: Đối với người khuyết tật nhìn thì thực hiện PBGDPL bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.
Công tác PBGDPL cho người khuyết tật là hết sức quan trọng và cần thiết, thông qua đó giúp người khuyết tật hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của bản thân. Chính vì vậy, trong thời gian tới, công tác PBGDPL cho người khuyết tật cần được các cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị quan tâm, chú trọng thực hiện hơn nữa để nâng cao nhận thức, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của người khuyết tật, từ đó khuyến khích họ tham gia vào đời sống xã hội, cùng các nhóm đối tượng trong xã hội cùng tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Diễm Xuân
[1] Theo số liệu do Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam cung cấp tại Hội thảo “Thực trạng và giải pháp tạo việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam” ngày 21/3/2023 (https://nhandan.vn/khoang-317-nguoi-khuyet-tat-tu-15-tuoi-tro-len-co-viec-lam-post743953.html).