Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025
Chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay, việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 đã trải qua hơn nửa chặng đường và đang bước vào những năm cuối cùng của giai đoạn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế như: tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư chưa cao, hệ thống thể chế liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia vẫn chưa hoàn thiện gây lúng túng cho địa phương trong triển khai, thực hiện. Do đó, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý, thực hiện các chương trình .
Theo Luật Đầu tư công năm 2019, Chương trình mục tiêu quốc gia là chương trình đầu tư công nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của từng giai đoạn cụ thể trong phạm vi cả nước. Trong giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm 3 chương trình thành phần: Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình Giảm nghèo bền vững; Chương trình Xây dựng nông thôn mới. Thể chế, chính sách quản lý, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia là hệ thống các quy định, chính sách pháp luật có liên quan đến việc quản lý, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; có tác động thúc đẩy, định hướng hoạt động của chương trình. Xác định được vai trò, tầm quan trọng của hệ thống thể chế, chính sách, trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương đã tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn, thiết lập bộ máy quản lý, điều hành các cấp; chủ động tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Vì vậy, các quy định pháp luật về quản lý, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021– 2025 trên cả nước từng bước được hoàn thiện; hầu hết các lĩnh vực thuộc chương trình đều có văn bản điều chỉnh.
Các cơ quan ở Trung ương đã ban hành rất nhiều văn bản quy định, hướng dẫn việc quản lý, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như: Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19/4/2022 quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24/6/2023 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2022/NĐ-CP… và nhiều Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ thuộc các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, kế hoạch và đầu tư, tài chính, lao động, thương binh và xã hội, dân tộc, y tế…Trên cơ sở đó, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành 13 văn bản quy phạm pháp luật (08 nghị quyết; 05 quyết định) quy định cụ thể các nội dung được giao chi tiết tại văn bản Trung ương; nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện các chương trình ở địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống thể chế quản lý, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 ở cả Trung ương và ở tỉnh vẫn tồn tại nhiều bất cập, chồng chéo; tính ổn định chưa cao. Theo đó, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt các văn bản do Chính phủ, Bộ trưởng các bộ đã phải sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế như: Nghị định số 27/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 38/2023/NĐ-CP; Thông tư số 02/2022/TT-UBDT ngày 30/6/2022 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện một số dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 02/2023/TT-UBDT; Thông tư số 15/2022/TT-BTC, Thông tư số 46/2022/TT-BTC… đều đã được thay thế bằng Thông tư mới. Bên cạnh đó, mỗi địa phương có đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng chậm ban hành văn bản quy định về cơ chế đặc thù, gây vướng mắc triển khai, thực hiện trong một khoảng thời gian dài. Ngoài ra, nội dung giao địa phương quy định chi tiết về định mức đất sản xuất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai làm cơ sở xác định hộ gia đình thiếu đất sản xuất tại khoản 5 Điều 1 Thông tư số 02/2023/TT-UBDT chưa phù hợp với các quy định pháp luật về đất đai, gây khó khăn cho địa phương trong triển khai thực hiện dự án; cũng như công tác xây dựng hoàn thiện thể chế tại địa phương.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, tiến độ ban hành văn bản quy phạm pháp luật tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ở tỉnh còn chậm: Chương trình triển khai cho giai đoạn 2021 – 2025, tuy nhiên đến năm 2022, 2023 tỉnh mới ban hành văn bản triển khai, ảnh hưởng lớn đến việc giải ngân vốn đầu tư. Một số văn bản của tỉnh quy định chưa đầy đủ, chưa thống nhất với văn bản Trung ương, gây khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện, như: khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND ngày 14/7/2023 của HĐND tỉnh Quy định mức hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo tỉnh Đắk Lắk từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 chỉ quy định hỗ trợ nhà đối với đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo đang thường trú trên địa bàn các huyện M’Drắk, Ea Súp; không quy định hỗ trợ cho đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo tạm trú trên địa bàn các huyện này. Quy định như Nghị quyết là chưa đầy đủ, chưa thống nhất với quy định tại điểm a khoản 2 Thông tư số 01/2022/TT-BXD ngày 30/6/2022 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn các huyện nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; cũng như, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Để khắc phục bất cập, vướng mắc này, hiện nay cơ quan chủ trì xây dựng nghị quyết đã tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh xây dựng Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND, nhằm đảm bảo tính phù hợp, thống nhất của hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND ngày 14/7/2023 của HĐND tỉnh Quy định hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021 - 2025, trước đây cũng có nội dung không phù hợp với Nghị định số 27/2022/NĐ-CP, một thời gian dài gây lúng túng cho địa phương trong triển khai thực hiện (hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐND ngày 03/5/2024 của HĐND tỉnh).
Ngoài ra, hiện nay vẫn còn một số nội dung được giao quy định chi tiết, nhưng đến nay các cơ quan được giao tham mưu chậm tham mưu ban hành, nên không có cơ sở để triển khai thực hiện một số dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia ở địa phương như: nội dung về mẫu hồ sơ, thủ tục lựa chọn dự án dược liệu quý theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 10/2022/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn triển khai nội dung Đầu tư, hỗ trợ phát triển vùng trồng dược liệu quý thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025…
Để việc triển khai, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 về đích đúng kế hoạch đã đề ra, cần nỗ lực hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan đến việc quản lý, thực hiện chương trình. Theo đó, các cơ quan, đơn vụ, địa phương cần nâng cao chất lượng góp ý, thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, để kiểm soát chất lượng văn bản ngay từ khâu ban hành, nhằm hạn chế các thiết sót, vướng mắc của văn bản. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản quy định về quản lý, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nhằm kịp thời phát hiện các quy định bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp. Đối với các nội dung được giao quy định chi tiết, nhưng đến nay vẫn chưa ban hành văn bản điều chỉnh, cần khẩn trương xây dựng, ban hành văn bản, kịp thời tạo căn cứ pháp lý triển khai, thực hiện các nội dung, dự án thuộc chương trình./.
Phan Hiền