Thứ ba, Ngày 19 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 23/12/2025

Cải chính tuổi: Dẫn đến khi đăng ký kết hôn thì chưa đủ tuổi kết hôn – xử lý như thế nào?

Anh A sinh tháng 10/1981, đăng ký kết hôn với chị B vào tháng 02/2002. Khi đăng ký kết hôn, anh A đã hơn 20 tuổi, đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình (trước đây, nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên thì được đăng ký kết hôn nhưng kể từ ngày 01/01/2015, nam phải từ đủ 20 tuổi và nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được đăng ký kết hôn). 

Đến nay, anh A tìm thấy Giấy khai sinh bản chính, trong đó xác định anh sinh tháng 10/1983 nên anh đề nghị cải chính lại năm sinh của mình trong Giấy đăng ký kết hôn từ tháng 10/1981 thành tháng 10/1983. 

Vấn đề rắc rối là nếu cải chính năm sinh thì khi đăng ký kết hôn, anh A mới chỉ 18 tuổi 08 tháng – chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Vậy trong trường hợp này, anh A có được cải chính năm sinh trong Giấy đăng ký kết hôn hay không? Nếu cải chính, việc đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị B sẽ xử lý ra sao?

1. Về cải chính thông tin trong Giấy đăng ký kết hôn

Theo quy định pháp luật hộ tịch, tại thời điểm đăng ký kết hôn, nếu do lỗi của anh A hoặc do cán bộ tư pháp dẫn đến thông tin về năm sinh của anh A trong Giấy đăng ký kết hôn không chính xác thì anh A có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cải chính thông tin này cho chính xác. 

Ở đây, do lỗi của anh A là cung cấp giấy tờ về năm sinh không chính xác, dẫn đến sai thông tin về năm sinh trong Giấy đăng ký kết hôn. Nay có giấy đăng ký khai sinh (là giấy tờ gốc của các giấy tờ về nhân thân) để chứng minh nên anh được cải chính thông tin về năm sinh trong Giấy đăng ký kết hôn theo quy định.

2. Về việc anh A chưa đủ tuổi tại thời điểm đăng ký kết hôn

Vì anh A chưa đủ tuổi tại thời điểm đăng ký kết hôn nên sau khi cải chính năm sinh của anh, việc đăng ký kết hôn của anh với chị B vào tháng 02/2002 sẽ là trái quy định pháp luật. Vậy, việc đăng ký kết hôn trái pháp luật này sẽ xử lý như thế nào?

Theo Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì:

·      Tòa án là người có thẩm quyền xử lý việc kết hôn trái pháp luật. 

·      Anh A, chị B; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của anh A, chị B; hoặc cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; hoặc cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

·      Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh A và chị B đều đã đáp ứng yêu cầu về tuổi đăng ký kết hôn 

ü  Nếu cả 02 bên đều có yêu cầu được công nhận, duy trì quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Thời điểm kết hôn sẽ được xác lập lại, không phải từ tháng 02/2002 mà từ thời điểm anh A đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (ngày anh A đủ 20 tuổi).

ü  Nếu một trong hai bên hoặc cả 02 bên có yêu cầu không duy trì quan hệ hôn nhân này thì Tòa án sẽ hủy việc kết hôn trái pháp luật nêu trên.

·      Sau khi có Quyết định của Tòa án công nhận/hủy quan hệ hôn nhân giữa anh A và chị B được gửi đến, cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn của anh chị sẽ ghi vào sổ hộ tịch việc công nhận/hủy việc kết hôn của Tòa án và thời điểm xác lập/hủy quan hệ hôn nhân giữa anh A, chị B.

Do đó, nếu gặp trường hợp như trên, công chức tư pháp – hộ tịch cần nghiên cứu kỹ quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình để giải thích cho người yêu cầu hiểu rõ; thực hiện việc cải chính hộ tịch; hướng dẫn người dân đề nghị Tòa án công nhận/hủy quan hệ hôn nhân nêu trên và phối hợp với Tòa án trong giải quyết theo đúng quy định pháp luật hiện hành./.

Thúy Hà

 

 

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready