CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội hiện nay, cùng với nhận thức pháp luật của người dân đang ngày càng được nâng cao, việc đương sự yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng nói chung và tố tụng hành chính nói riêng ngày càng nhiều. Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thiếu thiện chí đã có những hành vi, biện pháp nhất định tác động xấu đến việc giải quyết vụ án cũng như việc thi hành án sau này, như tiêu hủy chứng cứ, cho cưỡng chế thi hành quyết định hành chính nhằm gây khó khăn cho việc khắc phục thiệt hại sau này... Vì vậy, Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) đã quy định quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các đương sự tại Điều 66 Luật TTHC, nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng tạm thời hiện có của đối tượng bị tác động bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.
1. Quy định pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính được quy định tại Điều 68 Luật TTHC năm 2015 (khoản 1 Điều này được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 2 Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi năm 2019) bao gồm:
- Biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, một phần hoặc toàn bộ kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Biện pháp này được hiểu là việc Toà án cho tạm ngừng việc thi hành các quyết định nói trên trong một thời hạn nhất định khi có căn cứ luật định. Trong thời hạn do Toà án quyết định, cơ quan ban hành các quyết định đang bị khiếu kiện không được đưa ra thi hành các quyết định đó. Việc cho tạm ngừng các quyết định nói trên nhằm ngăn ngừa những hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục có thể xảy ra nếu các quyết định đó được thi hành. Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ các quyết định nói trên chỉ được áp dụng trong trường hợp có đủ các căn cứ để cho rằng các quyết định đó là trái pháp luật, do đó có thể dẫn đến hậu quả xấu ở mức nghiêm trọng không thể khắc phục (như quyết định phá dỡ nhà…) dù về pháp lý Toà án vẫn chưa xét xử và chưa ra bản án để huỷ bỏ các quyết định đó.
- Biện pháp tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.
Tạm dừng thực hiện hành vi hành chính được hiểu là việc Toà án buộc các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không được thực hiện một hoặc một số hành vi bị khiếu kiện trong một thời hạn nhất định. Biện pháp này được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng hành vi hành chính là trái pháp luật và việc tiếp tục thực hiện hành vi hành chính sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục. Ví dụ: Cho tạm dừng hành vi tháo dỡ công trình xây dựng mà việc tháo dỡ đó không có quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải xuất trình chứng cứ chứng minh sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để Toà án xem xét quyết định.
- Biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định.
Biện pháp này được hiểu là hành vi của đương sự, thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định (mà không phải là hành vi hành chính bị khiếu kiện) làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án (như làm kéo dài việc giải quyết vụ án) hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Toà án giải quyết.
Hành vi hành động: Được thể hiện dưới hình thức thực hiện một hoặc một số hành vi nào đó (như xuất cảnh để định cư nước ngoài…).
Hành vi không hành động: Được thể hiện dưới hình thức không thực hiện một hoặc một số hành vi nào đó (như không di dời máy móc thiết bị ra khỏi diện tích đất là đối tượng bị thu hồi của quyết định hành chính).
Người yêu cầu áp dụng biện pháp này phải xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi của đương sự đang diễn ra và sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để Toà án xem xét.
2. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Khi tham gia tố tụng vụ án hành chính, các đương sự có thể sử dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của luật này. Khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn những hậu quả có thể xảy ra đối với đương sự. Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án hành chính ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính. Như vậy, quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện trong 2 tình huống quy định cụ thể tại Điều 66 Luật TTHC như sau:
- Thực hiện bất cứ lúc nào sau khi đã thụ lý vụ án hành chính (tức trong suốt quá trình giải quyết vụ án).
- Thực hiện cùng lúc với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính (tức trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính).
Đương sự, người khởi kiện có thể lựa chọn thời điểm để yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được Luật TTHC quy định. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người khởi kiện thực hiện quyền này mà không được từ chối, cản trở họ thực hiện quyền của họ nếu yêu cầu đó là phù hợp với quy định của Luật TTHC.
3. Trách nhiệm của Toà án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trách nhiệm của Toà án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 72 Luật TTHC. Theo đó, để bảo đảm việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đúng pháp luật, tránh gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba do Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, cần phải lưu ý thực hiện như sau:
- Khi đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án yêu cầu đương sự phải làm đơn yêu cầu theo đúng quy định tại Điều 73 Luật TTHC. Tòa án chỉ xem xét để ra quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được ghi trong đơn. Nếu xét thấy yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là có căn cứ thì Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu không chấp nhận thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Trong trường hợp đương sự có thay đổi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác, thì Tòa án yêu cầu họ phải làm đơn yêu cầu mới theo quy định tại điều 73 Luật TTHC.
- Khi xem xét quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, Tòa án chỉ có quyền chấp nhận toàn bộ, một phần hoặc không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể đó của đương sự. Tuyệt đối không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của họ. Trong trường hợp họ có thay đổi yêu cầu nhưng vượt quá yêu cầu ban đầu, thì Tòa án yêu cầu họ kèm đơn yêu cầu bổ sung theo đúng quy định tại Điều 73 Luật TTHC.
Đây là quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hạn chế việc tùy tiện, thiếu trách nhiệm, ngại khó để không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đã có yêu cầu của đương sự, dẫn đến những thiệt hại cho đương sự. Ngoài ra, điều luật cũng quy định nguyên tắc áp dụng luật trong bồi thường thiệt hại để tạo cơ sở cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại khi xảy ra.
4. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính
Trong quá trình giải quyết vụ án (kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án), Tòa án nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét người yêu cầu có thuộc một trong các đối tượng quy định tại Điều 66 Luật TTHC hay không (gồm: Đương sự hoặc người đại diện của đương sự), phải xem lý do yêu cầu có thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 66 Luật TTHC hay không.
Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán phải xem xét đơn và các chứng cứ kèm theo chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa làm đúng quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật TTHC, thì Thẩm phán yêu cầu họ phải sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Nếu chứng cứ chưa đủ thì đề nghị người yêu cầu cung cấp bổ sung chứng cứ, thẩm phán cũng có thể hỏi thêm ý kiến của họ. Trong trường hợp có thể hỏi được ý kiến của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và việc hỏi ý kiến đó không làm ảnh hưởng đến việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng lại đảm bảo cho việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đúng đắn thì Thẩm phán cần hỏi thêm ý kiến của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Sau khi xem xét và nghe ý kiến, nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết, thì Thẩm phán ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp biết.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Hội đồng xét xử cần hỏi ý kiến của người yêu cầu và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau đó tiến hành thảo luận tại phòng xử án, có thể xử lý theo các trường hợp sau:
- Trong trường hợp chấp nhận yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không phải ra quyết định, nhưng phải thông báo công khai tại phiên tòa việc không chấp nhận đó nhưng phải nêu rõ lý do và ghi vào biên bản phiên tòa.
- Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra mà cá nhân, cơ quan, tổ chức cùng với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án, họ nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Chánh án Tòa án đó chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo để xác định đơn khởi kiện có thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án mà họ yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không. Nếu không thuộc thẩm quyền thì Toà án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và các chứng cứ kèm theo cho họ. Nếu thuộc thẩm quyền thì tiếp tục xem xét giải quyết đơn theo quy định.
Như vậy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ là hoạt động trong quá trình giải quyết vụ án hành chính mà còn là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần quan trọng trong việc giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án. Trong điều kiện xã hội hiện nay, biện pháp khẩn cấp tạm thời trở thành công cụ pháp lý vững chắc để các đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia vào các hoạt động tố tụng, từ đó ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ bằng chứng, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc hành chính được chính xác và hiệu quả hơn.
Phương Uyên