Bất cập trong việc thực hiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hút thuốc lá nơi công cộng
Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác (khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá). Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sử dụng thuốc lá là nguyên nhân gây ra hơn 8 triệu ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm. Trong khói thuốc lá chứa hơn 7.000 chất hóa học, trong đó có hàng trăm loại có hại cho sức khỏe, 70 chất gây ung thư, điển hình như: ung thư phổi, bệnh tim mạch, phổi tắc nghẽn mạn tính, vô sinh và nhiều bệnh nan y khác… Ngoài ra, trong thuốc lá còn bao gồm chất gây nghiện và các chất gây độc.
Để phòng chống tác hại của thuốc lá, ngày 18/6/2012, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (có hiệu lực từ ngày 01/5/2013). Sự ra đời của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã đánh đấu một bước ngoặt lớn trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam; được Tổ chức Y tế thế giới đánh giá khá toàn diện và phù hợp với Công ước khung về kiểm soát thuốc lá; thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo vệ các thế hệ hiện tại và tương lai khỏi các tác hại về sức khoẻ, kinh tế và môi trường do việc sử dụng thuốc lá gây ra.
Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã quy định những nơi cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11 Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá) như: cơ sở y tế; cơ sở giáo dục trừ trường cao đẳng, đại học, học viện; cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao; nơi làm việc hay như trên các phương tiện giao thông công cộng như ô tô, tàu bay, tàu điện nhưng thực tế, tại các trung tâm y tế, bệnh viện vẫn xảy ra tình trạng bệnh nhân, người nhà bệnh nhân ngang nhiên hút thuốc, dù khu vực đó có biển cảnh báo “cấm hút thuốc lá”, các điểm công cộng như bến xe, nhà ga thì tình trạng hút thuốc lá vẫn diễn ra phổ biến. Tại các trường cao đẳng, đại học chỉ cấm hút thuốc lá trong nhà, cho phép hút thuốc lá trong khuôn viên nên vẫn còn tình trạng sử dụng thuốc lá tại các khu vực ít người qua lại như ban công, hành lang, cầu thang, căng tin...Việc thực hiện môi trường không khói thuốc ở địa điểm nhà hàng, quán ăn, cơ sở lưu trú du lịch còn nhiều hạn chế.
Ngày 28/9/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, theo đó, nếu hút thuốc lại tại nơi cấm hút thuốc sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm, nhưng hầu như việc thực hiện quy định xử phạt vi phạm vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể:
- Về mức phạt: So với mức phạt của các quốc gia khác trong khu vực Châu Á như Singapore (từ 200 đến 1.000 đô la Singapore, khoảng 3,5 - 17,5 triệu VNĐ), Thái Lan (tối đa 5.000 Bạt Thái Lan, khoảng 3,3 triệu VNĐ) hay Nhật Bản (từ 2.000 đến 5.000 yên Nhật, khoảng 320.000 - 800.000 VNĐ, tùy theo thành phố, riêng Tokyo áp dụng mức phạt nghiêm ngặt hơn tại các khu vực đông đúc lên tới 10.000 yên, khoảng 1,6 triệu VNĐ) thì mức phạt của nước ta là khá thấp. Có thể thấy mức phạt này chưa đủ sức răn đe đối với nhiều người, đặc biệt trong bối cảnh xử phạt không thường xuyên.
- Thiếu nhân lực và cơ chế giám sát: Việc kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm chủ yếu thuộc trách nhiệm của lực lượng công an hoặc cán bộ quản lý tại các khu vực công cộng. Tuy nhiên, nhân lực hạn chế và thiếu cơ chế giám sát hiệu quả khiến việc xử phạt không được thực hiện đồng bộ. Ví dụ, tại các khu vực đông người như nhà ga, bến xe, hoặc bệnh viện, lực lượng chức năng thường không hiện diện kịp thời để xử lý hành vi vi phạm.
- Ý thức chấp hành pháp luật còn thấp: Một bộ phận không nhỏ người dân chưa hiểu rõ hoặc không tuân thủ quy định về cấm hút thuốc lá nơi công cộng, dù đã có cảnh báo hoặc biển báo. Văn hóa "ngại nhắc nhở" khiến người vi phạm ít khi bị cảnh báo bởi những người xung quanh.
- Thiếu cơ sở vật chất hỗ trợ: Nhiều nơi công cộng không có khu vực hút thuốc riêng biệt, khiến người hút thuốc không có lựa chọn khác ngoài việc vi phạm quy định. Các điểm cấm hút thuốc thường thiếu biển báo rõ ràng hoặc không có thông tin chi tiết về mức phạt.
- Khó khăn trong xử lý tại khu vực tư nhân: Một số địa điểm như nhà hàng, quán cà phê, và khách sạn được xem là không gian bán công cộng, dẫn đến việc quản lý và xử phạt trở nên khó khăn hơn do phụ thuộc vào ý thức của chủ cơ sở.
Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá trong thời gian tới, cần áp dụng các giải pháp đồng bộ và toàn diện, kết hợp sự tham gia của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và sự đồng lòng của mỗi người dân. Dưới đây là một số giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, tăng cường truyền thông và nâng cao nhận thức: Phát động chiến dịch tuyên truyền mạnh mẽ: Sử dụng đa dạng các kênh thông tin như truyền hình, báo chí, mạng xã hội để phổ biến kiến thức về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, môi trường, và kinh tế; Tổ chức các buổi hội thảo, lớp học, hoặc sự kiện cộng đồng tại trường học, công sở, và địa phương. Tập trung vào giới trẻ: Đưa nội dung về tác hại của thuốc lá vào chương trình giáo dục; Khuyến khích các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ và tránh xa thuốc lá.
Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát: Thành lập các đội thanh tra chuyên trách kiểm tra việc thực hiện quy định cấm hút thuốc nơi công cộng, đặc biệt tại bệnh viện, trường học, và bến xe; sử dụng công nghệ, như camera giám sát hoặc ứng dụng phản ánh vi phạm.
Thứ ba, nâng mức xử phạt: Tăng mức xử phạt hành chính để tăng tính răn đe, đồng thời đảm bảo việc xử phạt được thực hiện công bằng và minh bạch, đồng thời, yêu cầu các tổ chức, cá nhân quản lý các khu vực công cộng chịu trách nhiệm thực hiện và giám sát lệnh cấm hút thuốc trong phạm vi quản lý của mình.
Thứ tư, hỗ trợ người muốn cai thuốc: Tăng cường các trung tâm tư vấn, đường dây nóng hỗ trợ cai thuốc lá; Cung cấp dịch vụ cai thuốc miễn phí hoặc với chi phí thấp tại các cơ sở y tế; Phân phối hoặc trợ giá các sản phẩm thay thế nicotine (miếng dán, kẹo cao su) tại các hiệu thuốc và bệnh viện.
Thứ năm, quản lý chặt chẽ thị trường thuốc lá: Tăng thuế thuốc lá để giảm khả năng tiếp cận, đặc biệt đối với giới trẻ và người có thu nhập thấp; Hạn chế các chương trình khuyến mãi hoặc giảm giá thuốc lá; Tăng cường quản lý biên giới, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu thuốc lá.
Thứ sáu, phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ: Xây dựng không gian không khói thuốc, tạo thêm các khu vực riêng biệt cho người hút thuốc tại những nơi công cộng để giảm thiểu ảnh hưởng đến người xung quanh; Thúc đẩy môi trường làm việc và trường học không khói thuốc thông qua việc khen thưởng các tổ chức, doanh nghiệp và trường học thực hiện tốt quy định không khói thuốc.
Thứ bảy, phát huy vai trò của cộng đồng: Khuyến khích các tổ chức, đoàn thể, nhóm tình nguyện tham gia giám sát và hỗ trợ thực hiện các chiến dịch phòng, chống thuốc lá; Khuyến khích người dân phản ánh vi phạm qua các kênh báo cáo, ứng dụng công nghệ; Tuyên dương các cá nhân và tổ chức có đóng góp tích cực trong việc phòng chống tác hại thuốc lá.
Việc phòng, chống tác hại của thuốc lá đòi hỏi một chiến lược toàn diện, lâu dài và sự phối hợp của nhiều bên liên quan. Sự thay đổi không chỉ nằm ở việc ban hành các quy định mà còn ở việc nâng cao nhận thức, hỗ trợ người dân từ bỏ thói quen hút thuốc và xây dựng một môi trường sống lành mạnh cho cộng đồng./.
Thu Hà