Bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu – trụ cột không thể tách rời của phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia
Trong kỷ nguyên số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn đó là các thách thức ngày càng phức tạp về an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu. Thực tiễn cho thấy, nếu không kiểm soát tốt các rủi ro trên không gian mạng, thành quả của chuyển đổi số có thể bị đe dọa nghiêm trọng, thậm chí gây tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế – xã hội và an ninh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Thông báo kết luận số 06-TB/CQTTCBĐ ngày 27/9/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm – Trưởng Ban Chỉ đạo – chủ trì, đã đưa ra những đánh giá toàn diện và định hướng chỉ đạo có ý nghĩa chiến lược đối với công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu trong giai đoạn hiện nay.
Từ đó có thể thấy, nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu thời gian qua. Trước hết, nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về tầm quan trọng của an ninh mạng đã có chuyển biến rõ rệt; nhiều cơ quan, tổ chức đã chủ động hơn trong triển khai các biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố. Cùng với đó, hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin tiếp tục được hoàn thiện, từng bước tạo hành lang pháp lý cho quản lý nhà nước và hoạt động của các chủ thể trên không gian mạng. Đáng chú ý, năng lực kỹ thuật của một số cơ quan, đơn vị chuyên trách đã được tăng cường; Việt Nam vươn lên xếp thứ 17 thế giới về chỉ số an toàn, an ninh mạng toàn cầu (GCI) – một minh chứng cho những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc nâng cao vị thế quốc gia trên không gian mạng. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp an ninh mạng trong nước bước đầu hình thành và phát triển, với một số doanh nghiệp đã làm chủ được công nghệ, sản phẩm cốt lõi theo định hướng “Make in Vietnam”.
Những kết quả này không chỉ góp phần bảo vệ hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, mà còn tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia theo hướng an toàn, bền vững.
Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt được thì công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sớm khắc phục. Công tác quản lý nhà nước về an ninh mạng ở một số nơi vẫn theo lối mòn, còn tình trạng chồng chéo, thiếu phối hợp giữa các cơ quan. Hệ thống pháp luật và văn bản chỉ đạo tuy đã được ban hành nhưng chưa theo kịp tốc độ phát triển nhanh của công nghệ và thực tiễn, dẫn đến “khoảng trống” và “độ trễ” trong điều chỉnh. Đặc biệt, nhận thức và kỹ năng về chuyển đổi số, an toàn thông tin của một bộ phận cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế; tình trạng không tuân thủ đầy đủ các quy trình, tiêu chuẩn bảo mật vẫn diễn ra, làm gia tăng nguy cơ rò rỉ, mất mát dữ liệu. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh mạng còn thiếu; ngân sách dành cho công tác bảo mật thông tin ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu; hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, tiềm ẩn rủi ro về chủ quyền số.
Trong bối cảnh đó, các mối đe dọa trên không gian mạng ngày càng tinh vi, mang tính “công nghiệp hóa”, có tổ chức, sử dụng trí tuệ nhân tạo và nhắm vào các hệ thống trọng yếu của quốc gia, từ tài chính, ngân hàng đến năng lượng, giao thông và dữ liệu dân cư. Đây là thách thức không chỉ về kỹ thuật, mà còn về thể chế, nguồn lực và năng lực quản trị.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu thời gian qua cần xác lập những quan điểm chỉ đạo có tính chiến lược. Trước hết, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, vừa cấp bách trước mắt, vừa lâu dài, gắn chặt với phát triển kinh tế – xã hội bền vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.
Một quan điểm có ý nghĩa đặc biệt là yêu cầu xử lý hài hòa mối quan hệ giữa an ninh và phát triển, trong đó an ninh phải phục vụ phát triển và phát triển phải đi đôi với bảo đảm an ninh. Cùng với đó, phương châm lấy phòng ngừa là chính, chủ động phát hiện và xử lý sớm các nguy cơ được nhấn mạnh, thay cho tư duy bị động, ứng phó khi sự cố đã xảy ra.
Ngoài ra, cần đặt trọng tâm vào việc xây dựng năng lực tự chủ, tự cường về công nghệ, ưu tiên phát triển ngành công nghiệp an ninh mạng trong nước theo hướng bền vững, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong bảo vệ an ninh mạng.
Từ các quan điểm chỉ đạo đó, có thể xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết là nâng cao nhận thức, kỹ năng về an ninh mạng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đưa kiến thức an toàn thông tin vào chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học, hình thành “bình dân học vụ số” trong xã hội.
Song song với đó là khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, rà soát, sửa đổi các quy định chưa phù hợp; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; chuyển đổi tư duy quản lý từ tiếp cận kỹ thuật thuần túy sang quản trị rủi ro toàn diện. Việc phát triển hạ tầng an ninh mạng hiện đại, đồng bộ, bảo vệ tuyệt đối các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia được xác định là nhiệm vụ then chốt, gắn với yêu cầu “an toàn ngay từ thiết kế”.
Đáng chú ý, việc phát triển ngành công nghiệp an ninh mạng tự chủ, ưu tiên sản phẩm, giải pháp trong nước; đồng thời bảo đảm nguồn lực tài chính cho công tác này, với yêu cầu chi tối thiểu một tỷ lệ nhất định trong các dự án công nghệ thông tin cho an ninh, an toàn dữ liệu. Cùng với đó là chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có cơ chế thu hút, đãi ngộ và giữ chân chuyên gia giỏi.
Cuối cùng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng được xác định là yêu cầu tất yếu, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia – dân tộc./.
Hà Ngân