Người bị nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam có những quyền và nghĩa vụ gì?
HIV/AIDS là đại dịch mang tính chất toàn cầu, mặc dù nó mới chỉ được phát hiện từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Trong suốt thập kỷ 1980 và những năm đầu của thập kỷ 1990 thế kỷ XX, sự kỳ thị, phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS, và thậm chí với cả những người thân của họ, diễn ra khá phổ biến trên thế giới. Ở một số nơi trên thế giới thậm chí đã từng diễn ra những hành động cực đoan như giết, đốt xác những người sống chung với HIV/AIDS và tẩy chay những người thân của họ. May mắn là theo dòng thời gian, nhận thức của nhân loại về cơ chế lây nhiễm HIV đã được nâng cao. Nhận thức rõ về cơ chế lây truyền HIV cùng với sự đấu tranh bên bỉ của các tổ chức, cá nhân hoạt động về quyền con người đã tạo ra một sự chuyển biến lớn trên thế giới trong cách đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS.
Từ thập kỷ 1990 đến nay, đã có nhiều văn kiện quốc tế được ban hành chứa đựng những cam kết về HIV/AIDS trong đó ít hoặc nhiều đều đề cập việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS và người thân của họ. Một số văn kiện tiêu biểu bao gồm: Các hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người (1996); Tuyên bố về “Những hành động then chốt để tiếp tục thực hiện Chương trình Hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển” (1999); Tuyên bố chính trị và các sáng kiến và hành động tiếp theo nhằm thực hiện các cam kết được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (2000); Tuyên bố chính trị và các sáng kiến và hành động tiếp theo nhằm thực hiện Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (2000); Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (2000), Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS - Khủng hoảng toàn cầu, hành động toàn cầu (2001)...
Việt Nam là một trong các quốc gia trên thế giới có tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS cao. Điều này đặt ra thách thức cho Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ những đối tượng đặc biệt này, họ là nhóm đối tượng dễ bị mọi người kỳ thị, cộng đồng xa lánh, dễ bị tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần.
Trước yêu cầu đó, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người năm 2006 ra đời và sửa đổi vào năm 2020, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trong đó ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV, giúp tránh những mặc cảm, tự ti, cũng như là cách thức để nhà nước bảo vệ quyền con người cho người nhiễm HIV một cách rộng rãi.
Theo Điều 4 Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (sửa đổi, bổ sung năm 2020), quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV được quy định như sau:
(1) Người nhiễm HIV có các quyền sau đây:
- Sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội;
- Được điều trị và chăm sóc sức khỏe;
- Học văn hóa, học nghề, làm việc;
- Được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV/AIDS;
- Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối;
- Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
(2) Người nhiễm HIV có các nghĩa vụ sau đây:
- Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác;
- Thông báo kịp thời kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho vợ, chồng, người dự định kết hôn, người chung sống như vợ chồng với mình;
- Thực hiện các quy định về điều trị khi tham gia điều trị bằng thuốc kháng HIV;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, nhằm bảo vệ các quyền lợi của người bị nhiễm HIV, tại Điều 21 Nghị định số117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế thì mức phạt vi phạm quy định về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV, điều trị dự phòng, điều trị phơi nhiễm HIV như sau:
(1) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Kê đơn thuốc kháng HIV cho người nhiễm HIV, người bị phơi nhiễm với HIV, điều trị dự phòng nhiễm HIV khi chưa qua đào tạo, tập huấn về điều trị HIV/AIDS theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Kê đơn thuốc kháng HIV không tuân thủ quy trình và phác đồ điều trị HIV/AIDS do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
(2) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Điều trị bằng thuốc kháng HIV tại cơ sở không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện không đúng quy định của pháp luật về ưu tiên tiếp cận thuốc kháng HIV;
- Không tổ chức quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV tại cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật;
- Không hướng dẫn về điều trị dự phòng lây nhiễm HIV đối với người bị phơi nhiễm với HIV;
- Không theo dõi, điều trị và các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con cho phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai.
(3) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Không theo dõi, điều trị đối với phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai thuộc diện quản lý;
- Không điều trị dự phòng lây nhiễm HIV đối với người bị phơi nhiễm với HIV;
- Cản trở người nhiễm HIV tham gia việc chăm sóc cho người nhiễm HIV khác hoặc cản trở họ tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, điều trị;
- Không bảo đảm chế độ chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV tại cơ sở bảo trợ xã hội;
- Thu tiền điều trị đối với người bị phơi nhiễm với HIV, bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, người bị nhiễm HIV do rủi ro của kỹ thuật y tế, phụ nữ nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi nhiễm HIV được Nhà nước cấp miễn phí thuốc kháng HIV;
(Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật)
- Thu tiền thuốc điều trị HIV đã được cấp, phát miễn phí.
(Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật)
(4) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi từ chối điều trị bằng thuốc kháng HIV đối với người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị theo quy định của pháp luật./.
Hà Oanh