LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TỈNH ĐẮK LẮK - Phần 2: Giai đoạn từ năm 1904 đến năm 1945
Ngày 09/02/1913, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Kon Tum (trước là đại lý Kon Tum trực thuộc Tòa công sứ Quy Nhơn), bao gồm Đại lý Kon Tum tách khỏi tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách từ tỉnh Phú Yên và Đại lý Đắk Lắk.
Ngày 02/7/1923, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách Đại lý Đắk Lắk khỏi tỉnh Kon Tum để thành một tỉnh độc lập. Lúc mới thành lập, tỉnh chưa được chia thành các huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng dựa theo các buôn làng có sẵn của các dân tộc thiểu số, bao gồm: người Êđê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M’dhur có 120 làng, người Mnông có 117 làng, người Xiêm 1 làng. Đến năm 1930, tỉnh Đắk Lắk được chia thành 4 khu (secteur): Buôn Ma Thuột (tỉnh lỵ), Mnông (bờ trái sông Sêrêpôk), Buôn Phy và M’Léang. Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, địa bàn tỉnh Đắk Lắk được chia thành 5 quận là Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Đắk Song, Lắk và M’Đrắk; tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột.
Ngày 09/4/1934, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định chia Đắk Lắk thành 24 tổng (carton), đứng đầu các tổng là Cai tổng. Theo số liệu thống kê năm 1936 (Annuaire Statistique de L’Indochine), tỉnh Đắk Lắk có diện tích 21.300km2, dân số 106.000 người, bao gồm 30 tổng, 576 xã.
Ngày 06/01/1942, Khâm sứ Trung Kỳ ra Nghị định số 3268 chia Đắk Lắk thành 3 quận (Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Lắk), 2 đại lý (M’Đrắk, Đắk Dam).
(Còn tiếp)