Thứ ba, Ngày 19 Tháng 05 Năm 2026
Cập nhật lúc: 25/03/2026

Công chứng/chứng thực: Văn bản khai nhận di sản đã bị “khai tử”

Thời gian qua, một số người làm công tác công chứng/chứng thực khá lúng túng khi văn bản công chứng không còn quy định về công chứng Văn bản khai nhận di sản, biểu mẫu về chứng thực cũng không còn biểu mẫu Lời chứng Văn bản khai nhận di sản. Vậy, tình huống trên được hiểu và xử lý như thế nào?

1. Trước đây, theo Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch và các văn bản liên quan thì đối với tài sản thừa kế cần đăng ký quyền sở hữu (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà….):

ü Nếu nhiều người cùng được hưởng di sản mà chưa xác định được phần di sản được hưởng của từng người thì họ sẽ lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản; 

ü Nếu chỉ duy nhất 01 người được hưởng di sản theo pháp luật hoặc tuy nhiều người cùng được hưởng nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó thì họ sẽ lập Văn bản khai nhận di sản; 

ü Còn trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản, họ sẽ lập Văn bản từ chối nhận di sản. 

Các văn bản trên phải được công chứng/chứng thực để xác lập/không xác lập việc chuyển quyền sở hữu từ người để lại di sản sang người thừa kế.

2. Hiện nay,

a) Kể từ ngày 01/7/2025, ngày Luật Công chứng năm 2024 có hiệu lực thi hành (thay thế Luật Công chứng năm 2014), liên quan đến phân chia di sản thừa kế, pháp luật về công chứng chỉ quy định công chứng Văn bản phân chia di sản thừa kế (Điều 59) và công chứng Văn bản từ chối nhận di sản (Điều 60) – không còn quy định về công chứng Văn bản khai nhận di sản như Điều 58 Luật Công chứng năm 2014. Quy định này nhằm đảm bảo sự thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015 (chỉ quy định về phân chia di sản theo di chúc, phân chia di sản theo pháp luật, hạn chế phân chia di sản, phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế - Điều 659, Điều 660, Điều 661, Điều 662).

Theo đó, người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản và đặc biệt, việc công chứng Văn bản phân chia di sản này cũng áp dụng đối với trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật mà chỉ có 01 người thừa kế (khoản 5 Điều 59).

Như vậy, trường hợp chỉ có 01 người thừa kế, thay vì công chứng Văn bản khai nhận di sản như trước đây, giờ sẽ làm thủ tục công chứng Văn bản phân chia di sản.

b) Kể từ ngày 01/11/2025, ngày Nghị định số 280/2025/NĐ-CP ngày 27/10/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về chứng thực có hiệu lực thi hành; liên quan đến phân chia di sản thừa kế, Tờ trình của Bộ Tư pháp đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định số 280/2025/NĐ-CP đã nêu rõ bãi bỏ 04 mẫu lời chứng về chứng thực văn bản khai nhận di sản để đảm bảo sự đồng bộ với Bộ luật Dân sự và Luật Công chứng. Do đó:

ü  Trước đây, Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định Phòng Tư pháp, UBND cấp xã có quyền chứng thực Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, Văn bản khai nhận di sản, Văn bản từ chối nhận di sản.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 280/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ quy định Chủ tịch UBND cấp xã có quyền chứng thực Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, Văn bản từ chối nhận di sản – không quy định Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền chứng nhận Văn bản khai nhận di sản nữa.

ü Các biểu mẫu kèm theo Nghị định số 280/2025/NĐ-CP (thay thế các biểu mẫu trước đây), chỉ có các biểu mẫu Lời chứng thực Văn bản phân chia di sản và Lời chứng thực Văn bản từ chối nhận di sản (mẫu số 11, 12, 13, 14, 15, 16) – không còn biểu mẫu Lời chứng thực Văn bản khai nhận di sản nữa.

Như vậy, trường hợp chỉ có 01 người thừa kế, thay vì chứng thực Văn bản khai nhận di sản như trước đây, giờ sẽ là thủ tục chứng thực Văn bản phân chia di sản.

Từ những nội dung trên cho thấy, hiện nay, văn bản pháp luật về công chứng, chứng thực đều đã nhất quán “khai tử” việc công chứng/chứng thực đối với Văn bản khai nhận di sản – thay vào đó, sẽ thống nhất thực hiện công chứng/chứng thực Văn bản phân chia di sản thừa kế dù là một/nhiều người nhận di sản, đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về dân sự, công chứng, chứng thực./.

N.H

Lấy link copy
In Gửi Email Chia Sẻ

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Trong tháng:

Tất cả:

ipv6 ready