Những nội dung đáng chú ý của Luật Thương mại điện tử năm 2025
Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Luật gồm 7 chương, 41 điều, quy định về chính sách phát triển thương mại điện tử; nền tảng thương mại điện tử và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài; trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử; ứng dụng công nghệ trong quản lý và xử lý vi phạm trong thương mại điện tử.
Luật áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. Việc ban hành Luật tạo cơ sở pháp lý thống nhất để quản lý các mô hình hoạt động thương mại điện tử trên môi trường điện tử, đồng thời quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia.
1. Làm rõ các loại hình nền tảng thương mại điện tử
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử là nền tảng số được thiết lập để thực hiện hoạt động thương mại điện tử, bao gồm: nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp; nền tảng thương mại điện tử trung gian; mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử và nền tảng thương mại điện tử tích hợp.
Trong đó, nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp do tổ chức, cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ; nền tảng thương mại điện tử trung gian cho phép tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản để giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền tảng; mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử là mạng xã hội có chức năng hỗ trợ thực hiện hoạt động thương mại điện tử; nền tảng thương mại điện tử tích hợp là nền tảng cho phép tích hợp các nền tảng thương mại điện tử khác trên chính nền tảng đó.
Việc phân định các loại hình nền tảng là cơ sở để xác định trách nhiệm tương ứng của chủ quản nền tảng và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử theo từng mô hình.
2. Công khai thông tin và điều kiện giao dịch trên nền tảng
Điều 11 của Luật quy định các nội dung cơ bản về điều kiện hoạt động phải được công khai trên nền tảng thương mại điện tử, gồm: thông tin về chủ quản nền tảng; chính sách bảo mật; quyền và nghĩa vụ của các bên; phương thức tiếp nhận và giải quyết phản ánh, yêu cầu, khiếu nại.
Các nội dung này phải được thể hiện tại vị trí dễ thấy trên nền tảng, bằng tiếng Việt, dễ hiểu, không gây nhầm lẫn, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, bảo đảm bình đẳng giữa các bên và tuân thủ pháp luật có liên quan.
Đối với nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến, Luật còn quy định việc công khai các nội dung về điều kiện giao dịch theo quy định. Nghị định số 248/2026/NĐ-CP đã quy định chi tiết các nội dung công khai này, trong đó có chính sách về giá, điều kiện hoặc hạn chế cung cấp hàng hóa, dịch vụ, chính sách thanh toán, chính sách ưu tiên hiển thị, quy chế hoạt động livestream bán hàng, chính sách giao hàng, đổi trả, hoàn tiền và một số nội dung khác tùy theo loại hình nền tảng.
3. Quy định cụ thể đối với hoạt động livestream bán hàng
Một nội dung đáng chú ý của Luật là dành riêng Mục 3 Chương III, từ Điều 22 đến Điều 26, để quy định về hoạt động livestream bán hàng và tiếp thị liên kết.
Theo Điều 22, chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng livestream bán hàng phải công khai quy chế hoạt động livestream bán hàng, thiết lập cơ chế tiếp nhận và giải quyết phản ánh, yêu cầu, khiếu nại của người xem; thực hiện các trách nhiệm liên quan đến kiểm soát, xử lý nội dung livestream và lưu trữ dữ liệu theo quy định.
Đối với hình ảnh, âm thanh của hoạt động livestream bán hàng, chủ quản nền tảng phải lưu trữ và bảo đảm khả năng truy cập trong thời gian ít nhất 01 năm kể từ thời điểm bắt đầu truyền phát.
Luật cũng quy định chủ quản nền tảng phải thực hiện dừng phát trực tuyến, gỡ bỏ thông tin hiển thị, đường dẫn ngay khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp luật định, như nội dung livestream vi phạm pháp luật; livestream đối với hàng hóa cấm lưu thông hoặc hàng hóa đang bị tạm dừng lưu thông theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; hàng hóa, dịch vụ cấm quảng cáo; hoặc trường hợp pháp luật yêu cầu có văn bản xác nhận nội dung quảng cáo nhưng chưa có văn bản xác nhận.
4. Trách nhiệm của người bán khi livestream
Theo Điều 23, trước khi thực hiện livestream bán hàng, người bán phải cung cấp cho người livestream các giấy tờ chứng minh đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và giấy tờ chứng minh đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Đối với hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật quy định phải có văn bản xác nhận nội dung quảng cáo trước khi thực hiện quảng cáo, người bán phải cung cấp văn bản xác nhận cho chủ quản nền tảng và người livestream trước khi thực hiện livestream. Nội dung bán hàng livestream phải phù hợp với nội dung quảng cáo đã được xác nhận.
5. Trách nhiệm của người livestream
Theo Điều 24, người livestream bán hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin cho chủ quản nền tảng để phục vụ việc xác thực danh tính; thực hiện theo quy chế hoạt động livestream bán hàng đã được công khai trên nền tảng; từ chối hợp tác khi người bán không cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định.
Người livestream không được cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về công dụng, xuất xứ, chất lượng, giá cả, chính sách khuyến mại, bảo hành và các nội dung khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ; phải thực hiện nội dung quảng cáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận đối với trường hợp pháp luật yêu cầu xác nhận; không sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, trang phục, hành vi trái đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục trong quá trình livestream.
Khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của người bán hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật, người livestream phải dừng hợp tác, dừng phát trực tuyến và gỡ bỏ thông tin hiển thị theo quy định.
Về thời điểm xác thực điện tử: Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ xác thực danh tính đối với người livestream và các chủ thể liên quan. Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định riêng về thời điểm thực hiện trách nhiệm xác thực điện tử của chủ quản nền tảng: kể từ ngày 01/01/2027. Đây là quy định cần lưu ý khi thực hiện Luật trong giai đoạn hiện nay.
6. Tiếp thị liên kết được quy định cụ thể
Điều 25 và Điều 26 của Luật quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết và người tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử.
Trước khi thiết lập đường dẫn truy cập, mã giới thiệu hoặc phương thức tương tự, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết phải thực hiện xác thực điện tử danh tính người tiếp thị liên kết; đồng thời từ chối cung cấp dịch vụ đối với các trường hợp luật quy định, trong đó có hàng hóa, dịch vụ cấm đầu tư kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công khai thông báo vi phạm pháp luật trên Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử.
Khi đường dẫn, mã giới thiệu hoặc phương thức tương tự đã được thiết lập, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết phải ngăn chặn, gỡ bỏ liên kết đối với hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; cung cấp thông tin về hoạt động tiếp thị liên kết theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
Đối với người tiếp thị liên kết, Luật yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ xác thực danh tính; từ chối thực hiện tiếp thị liên kết trong các trường hợp luật quy định; gỡ bỏ liên kết đối với hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cung cấp thông tin về hoạt động tiếp thị liên kết theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
7. Thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài
Luật dành Chương IV, từ Điều 27 đến Điều 32, quy định về thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.
Theo Điều 27, nền tảng thương mại điện tử nước ngoài có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam được xác định trên cơ sở các tiêu chí luật định, trong đó có trường hợp nền tảng cho phép lựa chọn ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt, sử dụng tên miền quốc gia “.vn” hoặc đạt ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam. Luật không áp dụng quy định này đối với nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp không có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Tùy từng loại hình nền tảng, Luật quy định các yêu cầu khác nhau. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử kinh doanh trực tiếp nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến phải chỉ định pháp nhân tại Việt Nam theo ủy quyền; đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian không có chức năng đặt hàng trực tuyến và mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến phải chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam; đối với nền tảng thương mại điện tử trung gian có chức năng đặt hàng trực tuyến, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và nền tảng thương mại điện tử tích hợp thì phải thành lập pháp nhân tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về ngưỡng giao dịch với người mua tại Việt Nam, điều kiện quản lý và vận hành nền tảng, việc ký quỹ và thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt đăng ký nền tảng thương mại điện tử nước ngoài. Nghị định số 248/2026/NĐ-CP được ban hành để quy định chi tiết các nội dung này. Vì vậy, không nên khái quát rằng mọi nền tảng thương mại điện tử nước ngoài đều phải ký quỹ, mà phải xác định theo đúng loại hình, điều kiện và trường hợp áp dụng theo Luật và Nghị định.
8. Trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử
Chương V của Luật quy định trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử, gồm dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, logistics, dịch vụ thanh toán và trung gian thanh toán, dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại.
Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ thương mại điện tử, Luật quy định trách nhiệm ngăn chặn hành vi vi phạm khi nhận được yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Chính phủ và không cung cấp dịch vụ cho nền tảng thương mại điện tử đã được cơ quan có thẩm quyền công khai thông báo vi phạm pháp luật trên Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử.
Đối với tổ chức cung cấp dịch vụ logistics hỗ trợ thương mại điện tử, Luật yêu cầu có cơ chế, biện pháp kiểm tra thông tin, hồ sơ, giấy tờ kèm theo hàng hóa trước khi vận chuyển; từ chối vận chuyển hàng cấm kinh doanh, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc hàng hóa vi phạm pháp luật khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Các tổ chức này còn có trách nhiệm phối hợp với chủ quản nền tảng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, xử lý các vụ việc liên quan đến buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ và các hành vi vi phạm khác theo quy định.
Đối với dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại, Luật quy định tổ chức cung cấp dịch vụ phải đáp ứng các điều kiện luật định để được cấp giấy phép; trong đó có điều kiện kinh doanh dịch vụ tin cậy theo pháp luật về giao dịch điện tử và có giải pháp đồng bộ, kết nối, xác thực dữ liệu về hợp đồng điện tử trong thương mại theo thời gian thực.
9. Chính sách hỗ trợ phát triển thương mại điện tử
Điều 9 Luật quy định Nhà nước có cơ chế, chính sách phát triển thị trường thương mại điện tử trong nước, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử; đồng thời hỗ trợ, phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, mở rộng thị trường quốc tế cho hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam. Luật cũng khuyến khích phát triển các loại hình, mô hình kinh doanh thương mại điện tử mới, thúc đẩy sáng kiến, đổi mới sáng tạo và ứng dụng thương mại điện tử vào sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.
Điều 10 quy định các đối tượng được hưởng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù phát triển thương mại điện tử, gồm: hộ kinh doanh, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong sản xuất, chế biến nông sản và ngành nghề truyền thống; doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật; người khuyết tật; cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; tổ chức có trụ sở chính, cá nhân cư trú tại miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
Các chính sách hỗ trợ đặc thù bao gồm hỗ trợ chi phí kết nối hạ tầng số, thiết lập gian hàng trên nền tảng thương mại điện tử; miễn phí hoặc hỗ trợ chi phí đào tạo, tập huấn về thương mại điện tử; hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính; tạo điều kiện tiếp cận chính sách ưu đãi về chuyển đổi số quốc gia và chương trình khuyến khích đổi mới sáng tạo; xây dựng mô hình điểm về thương mại điện tử tại một số khu vực theo quy định. Việc quy định chi tiết đối tượng, nội dung và chính sách hỗ trợ được giao cho Chính phủ và chính quyền địa phương cấp tỉnh căn cứ nhu cầu, tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
10. Hành vi bị cấm và xử lý vi phạm
Điều 6 Luật quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử, trong đó có hành vi lừa đảo, lừa dối trên nền tảng thương mại điện tử; kinh doanh hoặc tạo điều kiện cho người khác kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử các dịch vụ trái phép, hàng cấm, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa nhập lậu, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng hóa quá hạn sử dụng, hàng hóa vi phạm quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 37 quy định Hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử do Bộ Công Thương xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác thống nhất. Hệ thống có chức năng tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính trực tuyến; tiếp nhận, giải quyết phản ánh, yêu cầu, khiếu nại; giám sát, phân tích, cảnh báo rủi ro; tiếp nhận báo cáo, thống kê; công bố danh sách nền tảng thương mại điện tử đã được xác nhận thông báo, đăng ký; danh sách tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại đã được cấp phép và danh sách các chủ thể vi phạm pháp luật theo quy định.
Theo Điều 39, tổ chức, cá nhân vi phạm Luật tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính; bị áp dụng các biện pháp như chặn truy cập, tạm ngừng chức năng giao dịch của nền tảng, gỡ bỏ nội dung, tạm ngừng hoặc chấm dứt tài khoản vi phạm; buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, khôi phục quyền lợi của các bên liên quan; bồi thường khi gây thiệt hại. Trường hợp hoạt động thương mại điện tử có dấu hiệu của tội phạm thì bị xem xét xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.
11. Quy định chuyển tiếp và những mốc thời gian cần lưu ý
Luật Thương mại điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Theo Điều 41 của Luật, website thương mại điện tử, ứng dụng thương mại điện tử đã được xác nhận thông báo, đăng ký hoạt động trước ngày Luật có hiệu lực được tiếp tục hoạt động thương mại điện tử theo nội dung đã được xác nhận tại hồ sơ thông báo, đăng ký đến hết ngày 30/6/2027. Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử được xác nhận đăng ký trước ngày Luật có hiệu lực cũng được tiếp tục hoạt động đến hết ngày 30/6/2027.
Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đồng thời quy định tại Điều 53 rằng nền tảng thương mại điện tử là website, ứng dụng đã được xác nhận thông báo hoặc đăng ký hoạt động trước ngày 01/7/2026 được tiếp tục hoạt động theo nội dung đã xác nhận đến hết ngày 30/6/2027; trong thời gian này, chủ quản nền tảng thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung hồ sơ đã xác nhận theo quy định của Nghị định.
Một mốc thời gian khác cần lưu ý là 01/01/2027. Theo khoản 2 Điều 52 Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm thực hiện việc xác thực điện tử danh tính người bán và người livestream bán hàng kể từ ngày này.
Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh, các loại hình nền tảng, trách nhiệm của chủ quản nền tảng, người bán, người livestream, người tiếp thị liên kết, các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử và các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.
Để thực hiện đúng quy định, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử cần căn cứ vào loại hình hoạt động, chức năng của nền tảng và trách nhiệm tương ứng được quy định trong Luật; đồng thời thực hiện các quy định chi tiết tại Nghị định số 248/2026/NĐ-CP trong những nội dung được Luật giao Chính phủ quy định.
Việc nắm rõ và tuân thủ các quy định về cung cấp thông tin, điều kiện giao dịch, livestream bán hàng, tiếp thị liên kết, quản lý nền tảng, thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài và xử lý vi phạm là cơ sở để các chủ thể thực hiện hoạt động thương mại điện tử đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Căn cứ pháp lý:
- Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội.
- Nghị định số 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử.
Lê Thủy