Đắk Lắk triển khai Chương trình OCOP giai đoạn 2026-2030 và năm 2026
Đắk Lắk triển khai Chương trình OCOP giai đoạn 2026-2030 và năm 2026
UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2026-2030 và năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Chương trình hướng tới phát triển sản phẩm OCOP theo tiêu chí chất lượng, đặc trưng, đa giá trị và thân thiện với môi trường; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới hiệu quả, bền vững.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có thêm 300 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên; trong đó, ít nhất 02 sản phẩm có tiềm năng đạt chuẩn 5 sao và 60 sản phẩm đạt 4 sao. Về chủ thể tham gia, tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 30% là hợp tác xã, 30% là doanh nghiệp vừa và nhỏ; ít nhất 30% chủ thể tham gia liên kết chuỗi giá trị gắn với vùng nguyên liệu ổn định; đồng thời ít nhất 70% chủ thể còn thời hạn công nhận tham gia hiệu quả tối thiểu một kênh phân phối hiện đại hoặc thương mại điện tử.
Riêng năm 2026, tỉnh tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm đã được công nhận, phấn đấu có thêm khoảng 50-60 sản phẩm đạt chuẩn từ 3 sao trở lên; củng cố, phát triển các tổ chức kinh tế tham gia OCOP và hình thành hệ thống xúc tiến, quảng bá sản phẩm đặc trưng của tỉnh.
Chủ thể thực hiện bao gồm hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp vừa và nhỏ, trang trại, hộ sản xuất và hộ gia đình có đăng ký kinh doanh.
Sản phẩm OCOP là hàng hóa và dịch vụ du lịch có nguồn gốc địa phương, mang giá trị văn hóa, lợi thế tự nhiên và tri thức bản địa, đặc biệt là đặc sản vùng miền, sản phẩm làng nghề và dịch vụ du lịch cộng đồng, sinh thái. Sản phẩm được phân thành 6 nhóm: thực phẩm (tươi sống, sơ chế, chế biến); đồ uống (có cồn và không cồn); dược liệu và sản phẩm từ dược liệu (thực phẩm chức năng, thuốc, mỹ phẩm, tinh dầu); hàng thủ công mỹ nghệ (gỗ, sợi tự nhiên, kim loại, gốm sứ, dệt may); sinh vật cảnh (hoa, cây, động vật cảnh) và dịch vụ du lịch cộng đồng, sinh thái, điểm du lịch.
Chương trình tập trung vào bốn trụ cột: phát triển vùng nguyên liệu đặc trưng; chuẩn hóa, nâng cấp sản phẩm theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực chủ thể OCOP; mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại. Tỉnh ưu tiên chuẩn hóa sản phẩm theo nhu cầu thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến; đồng thời tăng cường năng lực quản trị, an toàn thực phẩm, thiết kế bao bì, ghi nhãn, sở hữu trí tuệ và truy xuất nguồn gốc.
Công tác quảng bá, xúc tiến thương mại và kết nối cung - cầu được đẩy mạnh qua hội chợ, triển lãm, điểm trưng bày, bán sản phẩm OCOP gắn với du lịch và lễ hội truyền thống. Đặc biệt, chú trọng chuyển đổi số, thương mại điện tử và bán hàng trực tuyến nhằm mở rộng thị trường.
Các nhóm giải pháp thực hiện gồm: tuyên truyền nâng cao nhận thức; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; củng cố tổ chức bộ máy và đào tạo nguồn nhân lực; tổ chức linh hoạt chu trình OCOP hằng năm; đẩy mạnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ, khai thác tài sản trí tuệ. Công tác tuyên truyền được thực hiện thường xuyên qua các phương tiện truyền thông, cổng thông tin, mạng xã hội, chuyên đề, sổ tay nhằm nâng cao nhận thức cho cơ quan quản lý, tổ chức kinh tế, nhà phân phối và người tiêu dùng.
Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan thường trực, chủ trì phối hợp triển khai kế hoạch; hướng dẫn UBND cấp xã xây dựng kế hoạch; theo dõi chỉ tiêu, kiểm tra, đánh giá, tổng hợp kết quả và tham mưu giải pháp tháo gỡ khó khăn. Sở cũng chịu trách nhiệm tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm cấp tỉnh, tập huấn cho cán bộ và chủ thể, xây dựng kế hoạch quảng bá, xúc tiến thương mại và truyền thông.
UBND các xã, phường là đầu mối trực tiếp tại địa phương, chịu trách nhiệm ban hành kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP từng giai đoạn và hằng năm; tuyên truyền, hỗ trợ chủ thể chuẩn bị hồ sơ; rà soát sản phẩm tiềm năng; hướng dẫn tham gia chương trình; tập trung vào sản phẩm đặc sản, truyền thống và dịch vụ du lịch nông thôn; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm và việc sử dụng nhãn hiệu OCOP trên địa bàn.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất kinh doanh là chủ thể sản xuất trực tiếp, cần chủ động xây dựng phương án kinh doanh, đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, áp dụng quy trình sản xuất và quản lý chất lượng tiên tiến, duy trì và nâng hạng sản phẩm, tăng cường xúc tiến thương mại, sử dụng nhãn mác, logo OCOP theo quy định và ưu tiên sử dụng nguyên liệu, lao động địa phương.
Với sự phối hợp đồng bộ giữa các sở, ngành, chính quyền cơ sở và chủ thể sản xuất, Chương trình OCOP giai đoạn 2026-2030 được kỳ vọng sẽ khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và giá trị văn hóa bản địa, tạo ra những sản phẩm chất lượng, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế nông thôn Đắk Lắk phát triển bền vững./.
B. Tuyết